Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2013

"BÍCH CÂU THƠ 1"- LẴNG HOA ĐẦU MÙA CỦA 10 TÁC GIẢ


" BÍCH CÂU THƠ 1"- LẴNG HOA ĐẦU MÙA CỦA 10 TÁC GIẢ

                                                                                   (Bài đăng lại)
“Như thể là hương, như thể là hoa… một sân chơi nhỏ, một bàn tròn thơ gọn nhẹ không mấy ồn ào. Ấy là Bích Câu Thơ, tập hợp 10 cây bút tâm đầu ý hợp, bỏ quên tuổi tác lại phía sau để đến với thơ, yêu thơ, thăng hoa thi tứ. Ngà y 28 hàng tháng là ngày sinh hoạt thường kỳ. Mười cây bút nhóm Bích Câu, cách đây chưa lâu từng là những dược sĩ, bác sĩ, nhà giáo:

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013

LỜI THƯA...


HỘI NGỘ TRAI RỪNG

Link cố định 14/11/2012@15h29, 261 lượt xem, viết bởi: Nguyễn Bá Hòa
Chuyên mục: Thơ văn
HỘI NGỘ TRAI RỪNG TẠI CỔ LOA
Xin mời các bạn cùng thưởng thức bài hát Trai Rừng thơ của gia đình nhà Phùng Cù Sân và Bùi Thị Sơn .
http://www.youtube.com/watch?NR=1&feature=endscreen&v=EdSpJKGxLuI
http://www.youtube.com/watch?v=99nCbXVy5os&feature=related
Vợ chồng anh chị Phùng Cù Sân -Bùi Thị Sơn và vợ chồng Blogo Nguyễn Đăng Thuyết- Hồng
===

Vợ chồng Anh Phùng Cù Sân-Bùi Thị Sơn vào đền lễ Bà Chúa Mỵ Châu
HỘI NGỘ
Hôm nay tôi cùng các Thi Hữu Cổ Loa được đón tiếp vợ chồng nhà văn nhà giáo Phùng Cù Sân và Bùi Thị Sơn về thăm .Cuộc gặp mặt thật vui tại gia đình của anh Nguyễn Đăng Thuyết .Sau đó tất cả mọi người cùng đi thăm đề Cổ Loa .
Hôm qua Anh Phùng Cù Sân vừa nhận giải nhất cuộc thi viết văn vì sự nghiệp giáo dục do bộ giáo dục tổ chúc vừa tổ chức trao giải tại trường đại học Bách Khoa Hà Nội.
TIN CỦA HỘI CGC VIỆT NAM
Sáng nay, tại phòng họp Thư viện Tạ Quang Bửu, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã diễn ra một cách trọng thể và thân mật cuộc họp mặt kỷ niệm 30 năm ngày Nhà giáo Việt Nam và tổng kết cuộc thi viết "TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO".
Tới dự có nhà giáo thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển; VS NGND Phạm Minh Hạc nguyên UV TƯ Đảng Bộ trưởng Bộ GD - chủ tich Hội CGC VN, các vị P.chủ tịch Đặng Huỳnh Mai, Nguyễn Mậu Bành,Nguyễn văn Sáu, Nguyễn Quang La; Các vị đại diện UB TƯ MTTQ VN, Ban Dân vận TƯ, Bộ Nội vụ,Hội Khuyến Học, Hội NCT, Công đoàn Bộ GD&ĐT,Sở GD&ĐT, lãnh đạo Hội CGC các tỉnh, BGH các trường Đại học tại Hà Nội... và đông đảo các nhà giáo lão thành, hội viên CLB Thơ Nhà giáo,các cơ quan tài trợ.
Phó Chủ tịch nước Nguyễn thị Doan và Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân do bận họp không tới dự được đã gửi lẵng hoa chúc mừng.
Sau phần văn nghệ rất rôm rả của đội Văn nghệ trường ĐHBK và các tiết mục cây nhà lá vườn rất hay của các cựu giáo chức là phần nội dung chính.VS NGND Phạm Minh Hạc phát biểu ý kiến bằng những lời tâm tình đầy tình cảm, nhắc lại những chặng đường vẻ̉ vang của sự nghiệp giáo dục đào tạo nước ta.
Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển nói về việc thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục do Đảng và Nhà nước vạch ra theo hướng chuẩn hóa, hội nhập và hiện đại hóa, chú ý tới việc thực hiện trả lương thâm niên cho các nhà giáo đã nghỉ hưu từ 1994 và xúc tiến việc xây dựng nền giáo dục theo hướng mở.
NGND AHLĐ Nguyễn Đức Thìn có bài phát biểu rất xúc động về tấm gương các thầy cô giáo, về phong trào nghìn việc tôt trong học sinh do chính ông khởi xướng từ trường Tam Sơn (Từ Sơn)và đã được TƯ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nhân rộng thành phong trào toàn quốc.
Tiếp đó, nhà giáo Nguyễn Thế Diên, trưởng ban Tuyên huấn TƯ Hội CGC VN đã lên trình bày Báo cáo tổng kết cuộc thi hồi ký về "TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO".Đến 30/6/2012 Ban Tổ chức đã nhận được 998 tác phẩm của 697 tác giả là nhà giáo đã nghỉ hưu,đương chức. Ban tổ chức giữ phiếu thi và đánh mã số vào bài thi, chuyển cho Ban Giám khảo chấm. Qua vòng sơ khảo, Ban Giám khảo đã chọn được 93 tác phẩm lọt vào vòng chung khảo gồm những bài đạt từ điểm 7,5 (trên 10) trở lên. Ban chung khảo (5 người) cùng chấm và chọn được 16 tác phẩm của 16 tác giả đoạt giải.
- Giải nhất thuộc về nhà giáo Phùng Cù Sân (Lai Châu)
- Giải nhì: Lê thị Huyền (Bà Rịa-Vũng Tàu) và Nguyễn Quốc Thái (Hải Phòng)
- Giải ba: Võ Giáp (Hà Tĩnh), Bùi thị Hội (Hà̀ Nội) và Lê Khắc Hân (Tp Hồ Chí Minh)
- Giải tư: Ngô văn Phố (TT-Huế), Ánh Tuyết (Thái Bình), Cao văn Tư (Lào Cai), Nguyễn Khắc Nhân (Thái Bình)
- Giải khuyến khích: Phạm Quang Đối (Hải Dương), Nguyễn An Cư (Bến Tre), Bùi Ký (Hà Tĩnh), Nguyễn Du Ngoạn( Thái Bình), Nguyễn Đức Thìn (Bắc Ninh), Lê Tốn (Vĩnh Phúc).
Sau đó là phần trao giải và chụp ảnh lưu niệm.
CHIÊC NÔI
" Cuộc thi hồi ký về đề tài " Tôn sư trọng đạo" do Hội Cựu giáo chức Viêt Nam tổ chức từ tháng 3/2012 đã kết thúc tốt đẹp 697 tác giả đã gửi 998 bài dự thi, trong đó có 93 bài được vào chung khảo, 16 bài của 16 tác giả được giải.
Chào mừng 30 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20-11-2012), Hội Cựu giáo chức Việt Nam tiến hành tổng kết cuộc thi, trao bằng khen và giải thưởng các tác giả đoạt giải, cá đơn vị và cá nhân tham gia tích cực góp phần làm cho cuộc thi thành công.
cuốn sách này được xuất bản để bạn đọc tiếp xúc được những sự kiện, những mẩu chuyện và tấm gương xúc động của Nhà giáo Việt Nam , thể hiện truyền thống "tôn sư trọng đạo " của dân tộc, truyền thống hiếu học của nhân dân ta.
Hi vọng rằng trong tình hình có những biểu hiện xuống cấp về đạo đức, lối sống hiện nay trong xã hội và nhà trường, cuốn sách này sẽ là viên gạch nhỏ góp phần xây dựng nền giáo dục Việt Nam đổi mới căn bản và toàn diện theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI của Ban chấp hành Trung ương Đảng..."
(Trích " Lời giới thiệu " cuốn hồi ký " TÔN SƯ TRỌNG ĐAO'" của chủ tịch Hội CGCVN- NGND, GS, VS Phạm Minh Hạc.)
CHIẾC NÔI (Giải Nhất)
Tác giả: Phùng Cù Sân
Nguyên Phó Hiệu trưởng Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Lai Châu.
(Kính tặng các thế hệ cán bộ, giáo viên và học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Lai Châu)
Con gái yêu của cha! Cha đến thăm con vào một ngày cuối đông. Trống trường điểm giờ ra chơi đã đến. Ôi tiếng trống làm lòng cha xao xuyến, dù bao năm xa trường, cha mãi mãi không quên. Các con ùa ra sân như một đàn chim trắng. Cả sân trường bỗng bừng vui xao động. Cha dõi mắt tìm hình bóng của con… Con bé bỏng như một con chim én. Nhớ năm xưa con xa nhà đi học… xe chuyển bánh con bỗng òa lên khóc, mẹ con cũng giàn giụa nước mắt, vì lần đầu tiên con cất bước đi xa. Con gái yêu hãy hiểu thấu lòng cha. Ai trong đời chẳng có lúc đi xa, đừng quẩn quanh bên vòng tay cha mẹ, con phải nghĩ được điều xa hơn thế…
***
Tuổi ấu thơ cha ngập tràn đau khổ: Cha lên ba, bà nội con đã qua đời. Ông nội con nghiện thuốc phiện con ơi. Ông đem cha đổi lấy tiền hút thuốc. Cha đi ở địu con cho người khác, lên năm tuổi như mèo tha con chuột. Cũng có lúc cùng trẻ con nô nghịch, cha ngã bươu đầu, con người ta thì khóc, người ta xót con tát mặt cha tới tấp. Cha đau đớn mà không dám khóc vì biết phận mình như cái kiến, con ong. Bẩy tuổi rưỡi cha lại mất nốt ông. Ngày ông mất cha không rơi nước mắt, trái tim cha lạnh cóng tự bao giờ. Không mẹ cha, cha lại sống bơ vơ, nay địu con nhà này, mai chăn trâu nhà khác, quanh năm chỉ bộ quần áo rách, làm cho người mà chả dám ăn no. Cha nhớ mãi một sáng mùa thu, có ông Suyền ở bên huyện ủy,vợ ra đi để lại hai em nhỏ, đón cha về cùng rau cháo nuôi nhau. Là cán bộ xuôi ông lại biết tiếng Dao, ông dạy cha nói tiếng Kinh bập bẹ. Ông thương cha như thương hai con đẻ. Có một lần cha thỏ thẻ hỏi ông: “Cháu muốn đi học có được không? Cứ địu trẻ con mãi thế này chán lắm! Cháu chỉ muốn đến khi cháu lớn, được làm cán bộ tốt như ông”. Ông ôm cha xiết chặt trong lòng: “Được, bố hứa sẽ cho con đi học”.
***
Năm sáu mươi (1960) cha xuống trường ký túccùng chú Sơn, chú Páo học vỡ lòng. Ông Cán cho cha hai chín đồng. Ông Suyền cho cha bộ quần áo mới. Ký túc xá đông vui như hội, các bạn học sinh mặc quần áo đủ màu. Cha lớn hơn các bạn một cái đầu, được thầy giáo chỉ định làm lớp trưởng. Cha thấy mình thật tự hào sung sướng, càng gắng lao động giỏi, học chăm. Bác Mỷ làm liên đội trưởng nhi đồng (bác nhanh nhẹn, hát hay, học giỏi). Bác thường đưa cha ra sông Đà tắm gội, đơm cho cha từng chiếc áo tuột khuy. Bác Phà rất đẹp trai lại thảo (mỗi khi bác được mẹ gửi quà,bao giờ cũng chia cha một nửa, khi củ khoai lúc thì cuốn vở, những kỷ niệm này cha mãi mãi không quên). Trường chuyển xuống Pá Ham, Phong Thổ rồi chuyển về mảnh đất Điện Biên. Ký túc xá xưa chuyển thành trường Thiếu niên. Con em các dân tộc đua nhau về học. Những thầy giáo mà cha nhớ nhất là thầy Hoàng Đạo Chúc, thầy Nguyễn Văn Huân, thầy Đào Tiến Minh, thầy Vũ Công Lựu… Những kỷ niệm cha không kể nổi… suốt đời cha không đáp hết ơn thầy, (từ nét bút thầy cầm tay cha tập viết, đến những đêm cha sốt râm ran, thầy bón cho cha từng thìa đường, viên thuốc). Mỗi thầy cô chuyển đi là một lần cha khóc, như đánh rơi vật báu nhất đời mình. Mái trường này là mảnh đất hồi sinh, tuổi thơ cha đã biết cười, biết hát… Mỗi mùa xuân sang, mỗi khi hè đến, các học sinh được về với gia đình. Họ vui lắm, cứ mong hoài, nhắc mãi. Cha tủi thân ra sân đứng một mình… Những ngày đó cha lên rừng kiếm củi hoặc làm nương cho cô bác trong trường. Ai nhìn cha cũng ái ngại xót thương. Họ nuôi cha trong những ngày hè, tết. Tục ngữ nói: “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Cha giờ không thèm cơm, thịt nữa, vẫn không quên những bữa cơm bí đỏ, bên những ánh mắt yêu thương thấm đậm tình người. Cha nhớ mãi ông Huỳnh, ông Ban, bà Lẩu, ông Lương, bà Sành… nhiều người nữa con ơi! - những công nhân viên giản dị suốt đời, lo cơm, thuốc cho con em dân tộc.
***
Sau bao năm dùi mài đèn sách, cha quyết tâm nối nghiệp cô thầy. Ra trường, cha lại trở về đây, đem cho trường một cô giáo trẻ. Con biết đó là ai không? Đó chính là người mẹ - mẹ của con - người thân nhất của cha. Mái trường này là nơi mẹ sinh ra hai anh và con giữa thời kỳ vất vả. Mẹ gầy nhom, xương nhô đôi gò má, chỉ ánh nhìn vẫn vời vợi sáng trong. Mẹ yêu thương các em nhỏ vô cùng, bao nhiêu đêm miệt mài bên giáo án. Từ cô bé mộng mơ lãng mạn, mẹ cùng cha san sẻ đói nghèo. Mái trường này là chiếc nôi mến yêu đã chở che đời cha từ tấm bé. Mái trường này là nơi cha tuyên thệ trước Đảng kỳ lời hứa một Đảng viên. Năm bẩy sáu (1976) từ tên gọi Thiếu niên, trường đổi tên thành Phổ thông Dân tộc. Học trò mẹ cha nay trưởng thành khôn lớn, mẹ cha tự hào được góp chút công lao. Mỗi lúc đi đâu học sinh hớn hở chào, mẹ cha thấy hạnh phúc này vô giá. Con biết không? Hai anh con cũng thế. Từ chiếc nôi này hai anh đã lớn lên trong vòng tay cán bộ, giáo viên và trong từng luống rau thấm mồ hôi cha mẹ. Thấm thoắt đã mười năm có lẻ, mẹ cha xa trường do tổ chức phân công. Đêm đêm vẫn canh cánh trong lòng nỗi nhớ về chiếc nôi thân thuộc. Nay trường con đã khác xa thuở trước, đẹp đẽ khang trang, thầy cô cũng giỏi hơn song trong cha vẫn vẹn tấm lòng son về mái trường nuôi cha từ tấm bé. Con gái yêu của cha, của mẹ! Cha rất vui thấy con khỏe, con ngoan, bạn bè khen con hát hay, học giỏi, thầy cô khen con thật thà nhanh nhẹn, bác cấp dưỡng khen con xinh như con chim én. Nhưng con ơi xin con chớ hợm mình. Sống trên đời con phải biết nghĩ suy, biết khiêm nhường để tiến xa hơn nữa. Con hãy hướng tấm lòng rộng mở đến bạn bè còn nghèo khổ hơn con, như xưa cha thường nhớ công ơn của bao người thương cha côi cút. Ở trong trường các thầy cô, chú bác đều là người thân - những đồng nghiệp của cha. Con hãy yêu như yêu kính mẹ cha nhưng đừng bao giờ nghĩ đó là chỗ dựa bởi mẹ cha không bao giờ muốn thế. Cha muốn con soi tấm gương của mẹ: Hãy vào đời bằng trí tuệ của mình và lòng bao dung, trái tim biết hy sinh, biết quên mình đấu tranh cho lẽ phải. Con gái ơi! Hãy nghe cha nhắc lại: Mái trường này là chiếc nôi mến yêu đã nuôi bao người con khôn lớn. Như đàn chim các con tung đôi cánh bay muôn phương hãy nhớ mãi mái trường này!
NỤ CƯỜI NGƯỜI HÀNG XÓM
Thơ Bùi Thị Sơn


Nụ cười
anh vô ý bỏ quên
bên cửa sổ nhà em
Em vội giấu vào đêm
Chỉ trộm nhìn len lén
Nụ cười-mũi kim đâm nhói tim
Nụ cười-mũi tên tẩm thuốc độc
Em trúng thương, quay cuồng đầu óc
Ngủ gối trên tay chồng
mà toàn thân lạnh buốt
Được chồng ôm thật chặt
mà dửng dưng xa cách
Úp mặt vào trong chăn
em khóc thầm lặng lẽ...
...Sáng mai ra
em nhìn thấy vợ anh hàng xóm
mắt thâm quầng,áo quần xộc xệch
ngẩn ngơ tìm cái gì đánh mất?
(Chắc đêm qua chị khóc
không tìm thấy nụ cười
trên môi anh chồng trẻ)
Như tội đồ, em cúi đầu, ứa lệ...
vội vã trở về nhà
mở toang cửa sổ ra
lặng lẽ
trả lại chị nụ cười
anh lỡ bỏ quên...


Sau đây Hòa tôi xin mượn Bài viết của: Phương Liên Hà Dũng Tiến để giới thiệu về gia đình nhà giáo nhà văn nhà thơ Phùng Cù Sân và Bùi Thị Sơn .
Nghiên cứu- Giới thiệu:
Từ NỤ CƯỜI NGƯỜI HÀNG XÓM, thấu hiểu một tấm lòng chân thật, tình đời nồng ấm…
(Thơ Bùi Thị Sơn trong tập ĐẾM TUỔỈ MÙA ĐÔNG, Nxb Văn hóa Dân tộc, phát hành tháng 3/2010)
Bài viết của: Phương Liên Hà Dũng Tiến.
Tôi đang có trên tay tập thơ in chung ĐẾM TUỔI MÙA ĐÔNG (N xb Văn hóa Dân tộc, phát hành tháng 3/2010) của ba tác giả: Phùng Cù Sân, Bùi Thị Sơn, Phùng Hải Yến. Bạn sẽ thấy thú vị và độc đáo khi biết đây là sáng tác của một gia đình yêu thơ, làm thơ, lại có thơ hay của cả bố, mẹ, con gái. Cuộc đời họ đã là một bài thơ đẹp. Nhà thơ Mai Liễu trong bài giới thiệu: “ ĐẾM TUỔI MÙA ĐÔNG- Độc đáo bài thơ cuộc đời” đã đánh giá đúng, với nhận xét tinh tế “…tình đời chắc mãi còn nồng ấm trên mỗi trang viết ấy. Bởi thơ cần nhất ở sự chân thật”.
Phùng Hải Yến phóng viên báo Lai Châu .

Tôi đã hơn một lần viết bài phẩm bình thơ Phùng Hải Yến, khi em đang tuổi “teen” trên blog của mình, tung lên mạng xã hội, mừng vì được bạn đọc ưu ái, với 4375 lượt truy cập, cả commemt (blog.tamtay.vn/phuonglien svhtt/blog); rồi được VĂN NGHỆ LAI CHÂU in, giới thiệu cùng bạn đọc. Bài VỀ PHÍA QUÊ MÌNH, thơ Phùng Hải Yến, đầy ám ảnh, dung dị, sâu lắng, như mơ như thực, tìm cứu cánh ở sự tĩnh tâm, hướng nội trước ồn ã xô bồ dòng người, dòng đời, sống trong hoài niệm tuổi thơ trong sáng, bay bổng, tìm về miền cổ tích, trở về “ Cái ngây thơ vĩ đại” (Kar Mark). Sau đó tôi lặng thầm đọc thơ Phùng Hải Yến, nhưng không viết gì thêm. Làm thơ mà lắm người tung hứng thì dễ bay bổng lên mây, rơi phịch xuống đất. Nhất là thơ vần vè, êm tai, lại được phổ nhạc. Tôi không biết thơ Phùng Hải Yến đã được phổ nhạc chưa? Chỉ biết bài TRAI RỪNG, thơ Bùi Thị Sơn, mẹ của Phùng Hải Yến, đã thành bài hát tham dự nhiều liên hoan, hội diễn, hội thi nghệ thuật quần chúng, cả liên hoan, hội diễn, hội thi nghệ thuật chuyên nghiệp, gặt hái nhiều huy chương, gặt hái những tràng pháo tay nòng nhiệt của khán giả.. Nhạc sĩ Vũ Duy Cương( chánh văn phòng Hội nhạc sĩ Việt Nam) không giữ nguyên bài thơ, chỉ thổi hồn, chắp cánh cho thơ bay cao, vang xa.
Xin phép các nhạc sỹ và những nhà nghiên cứu- phê bình âm nhạc, “múa rìu qua mắt thợ”, tôi dám khẳng định ca khúc TRAI RƯNG (Nhạc Vũ Duy Cương, lời thơ Bùi Thị Sơn) là một ca khúc hay. Hay ở phong cách nhạc rock hiện đại, mạnh mẽ, khỏe khoắn, trẻ trung. Hay bởi nhạc sĩ đã dùng tiết nhịp, âm hình chủ đạo rất ăn nhập với ý thơ, hồn thơ. Hay ở sức khám phá và những đột phá trong tiết nhịp, dấu lặng, độ cao thấp của âm thanh trong mô tiến, cấu trúc câu nhạc, đoạn nhạc( âm hình)… thể hiện đắc thể ngôn ngữ, cá tính, tâm hồn chất phác, thẳng thắn, chân thật và tình yêu vừa nồng cháy, bạo liệt, vừa tinh nghịch, thô nhám, bộc trực, hồn nhiên của người miền núi, của chất “ trai rừng”. Và, hay bởi dư ba bài thơ tự bản thân nó đã giàu nhạc tính, tiềm ẩn phong cách rock:

“ Trai rừng
như cây thông mọc thẳng
nói lời yêu rạch ròi:
-Tao thích mày”.

Câu thơ trần trụi, thô nhám, sù sì, như câu nói ngắn gọn, nhưng giàu nhạc điệu:

“Trai rừng
dám cầm tay
bẹo má người tình giữa chợ
…Trai rừng
thích vợ mình
là người tình đắm say mộc mạc…”

Tôi là người từng làm thơ và thích kiểu thơ trần trụi, nhưng nắm bắt được những chi tiết “đắt”, những chi tiết cụ thể, sinh động, giàu tính khái quát, khắc họa được tâm lý, tính cách, tạo dựng “nhân vật trữ tình”, “chủ thể trữ tình”, “hình tượng” trong thơ như thế, thật ra là điệu tâm hồn, chất miền núi, là phong vị thơ, là chất thơ mang nét bản sắc dân tộc vùng cao độc đáo, đậm đà. Bài thơ không bị gò bó bởi vần vè, nhạc điệu cũ nhàm, có một thứ nhạc điệu bên trong, nhạc điệu tâm hồn hòa quyện âm thanh núi rừng, âm thanh thiên nhiên bao la, khoáng đạt, cứ thì thầm, ngân nga, để người ta nhớ, thảng thốt mà da diết…(*)

Tôi nói cái thảng thốt mà da diết, ở một bài thơ khác của Bùi Thị Sơn, bài NỤ CƯỜI NGƯỜI HÀNG XÓM:

“Nụ cười
Anh vô ý bỏ quên

Em vội giấu vào đêm
…trộm nhìn len lén
…nhói tim
…tên tẩm thuốc độc
Em trúng thương, quay cuồng đầu óc
Ngủ gối tay chồng
… lạnh buốt
Được chồng ôm thật chặt
mà dửng dưng xa cách
Úp mặt vào trong chăn
em khóc thầm…”

Giời ạ! Anh Phùng Cù Sân ơi. Cái anh hàng xóm đào hoa kia chỉ cười nụ thôi mà làm anh suýt mất vợ đấy! Vì vợ anh là một người đàn bà đa tình, trắng trẻo, xinh xẻo. Tôi (và cả anh), và nhiều đàn ông khác cũng có thể là, đã từng là cái anh hàng xóm tủm tỉm cười, để vợ ngươi ta tưởng tượng, “tưởng bở”…Cái vô thức, cái bản năng gốc của con người vốn đầy “Phật tính”, cả đày dục tính ( Khoa Phân tâm học gọi là libido- dịch nghĩa là “cái dâm loạn”), luôn háo hức cái mới, của lạ. Nó chi phối cảm xúc và hành vi mà lí trí rất khó kiểm soát. Nó vừa có cái tốt, tác động đến chỉ số thông minh(IQ) và tài năng con người, vừa có cái xấu là kéo con người về phần con, phần thú tính! May mà chúng mình có cái “đèn đỏ lương tâm”, có cái “đèn pha ý thức”, nên đều biết “stop here “(dừng ngay ở đây).
Bùi Thị Sơn dồn nén, giải tỏa bản ngã, phát tiết thành thơ, trung thực với chính mình, nhìn thẳng vào mình, dám là mình, để không dối mình, dối người, dối đời. Có người tốt đến mức đáng nghi, có người tốt đến mức đáng ghét. Bùi Thị Sơn tốt đến mức đáng để cánh đàn ông chúng ta xây một thánh đường cho nàng vừa làm cha cố, vừa làm bà “xơ”, vừa làm con chiên, tự mình xưng tội, rửa tội.
Với tôi, lòng tốt của Bùi Thị Sơn vừa đáng trân trọng, vừa đáng thương( thể hiện rõ ở bài LINH CẢM), vừa đáng yêu, ngây thơ thật (khác ngây thơ cụ!), đẹp như trong truyện cổ tích (mô típ cô gái nghèo xấu xí yêu chàng mồ côi, kết thúc có hậu, chàng mồ côi trở thành hoàng tử, hoặc thành vua, còn cô gái nghèo trở nên xinh đẹp, trở thành hoàng hậu!).

Bùi Thị Sơn làm THƠ TÌNH TẶNG CHỒNG:
“ Trừ những nét xấu ra, tự thấy mình cũng đẹp
…Em yêu anh tha thiết chân thành
Từ khi là cô bé con mười sáu tuổi
Lãng mạn, mộng mơ và cũng hay buồn tủi
…không hề nông nổi
…em sinh ra dành để cho anh
Chàng mồ côi hiền chăm em đọc trong cổ tích

Anh biết không đã có bao đêm
Em lặng lẽ ngắm nhìn anh ngủ
Lặng lẽ hát ru những bài ca tình mẹ
Thưở ấu thơ anh chẳng được mẹ ru

Nép bên anh- Phăng Xô Lin vời vợi”
Và:
“ Như vầng trăng chỉ đêm rằm mới tỏ
Chỉ có anh- em mới thật là em”
Thơ Bùi Thị Sơn cứ giãi bày, dãi dề, vò xé nội tâm trong mâu thuẫn Con người bản năng- giới tính đầy nhục dục, kìm nén khao khát với Con người xã hội- lý tưởng đầy mô phạm, đầy giáo điều, nhưng cũng đầy Cái Đẹp đích thực; con người Nho giáo quá độ lên Con người mới “ Công- Dung- Ngôn- Hạnh” khắc kỷ, đầy bài học răn dạy luân lý, đầy trách nhiệm chung riêng với Con người Lễ hội- Thơ nhạc phát tiết thăng hoa trong khát vọng bình đẳng, tự do giữa thần và người, hiển quý và bình dân, trai và gái…khát vọng vươn tới CHÂN- THIÊN- MỸ. Vô thức, bản ngã Bùi Thị Sơn bị câu thúc, kiềm tỏa bởi những chuẩn mực luân lý, đạo đức, khế ước xã hội.. Nhưng bản ngã ấy, vô thức ấy vẫn luôn đồng hành trong cuộc sống thường nhật; lại càng phức tạp, mâu thuẫn trong quá trình chuyển động cũ- mới, bảo thủ- tân tiến, hướng nội- hướng ngoại của nhiều tiếp biến văn hóa, của bao bất trắc, đấu tranh ý thức hệ…Tôi cứ thầm kỳ vọng thơ Bùi Thị Sơn đang sục sặc quẫy cựa, đang tìm chính mình. So sánh có khập khiễng không, rằng vẻ đẹp một số câu thơ hay của Bùi Thị Sơn hao hao giống vẻ đẹp Thúy Vân, đôi câu pha chút vẻ đẹp Thúy Kiều. Đó là vẻ đẹp tròn trịa, má “phinh phính bánh đúc” của Thúy Vân, thỉnh thoảng lóe sáng vẻ “sắc sảo, mặn mà” của Thúy Kiều! Nói thật, Bùi Thị Sơn chưa có những câu thơ tài hoa. Cái tạo nên chính mình trong thơ của Bùi Thị Sơn là sự chiến thắng của tình yêu đằm thắm, thủy chung bên trong những mâu thuẫn, giằng xé, là tấm lòng nhân hậu của người vợ, người mẹ, là cái ý thức, cái sự bằng lòng, hiểu rõ cái “ một nửa” cần có thêm “ một nửa” mới tròn đầy được. Đó là người yêu, người chồng của mình. Thật cảm động khi Bùi Thị Sơn ngắm chồng, cái nửa của mình, vào lúc anh ngủ, lúc anh “ lương thiện” nhất:

Bài thơ VIẾT KHI ANH ĐANG NGỦ là nỗi niềm riêng của cô gái hơ hớ, rào đón nũng nịu, hồn nhiên tươi mới, lại đằm cái tình của người yêu, người vợ, người chị, người mẹ:
…” Đừng trách em đa tình…
Trái tim em…
Luôn rộn ràng, náo nức muốn được yêu
...
Biết anh mồ côi từ tấm bé
Trái tim em rớm máu tự bao giờ

Người con gái nào chẳng có nỗi niềm riêng
Trước người yêu, họ muốn thành nhỏ bé
Muốn được chở che bên bờ vai săn khỏe
Muốn được nghe lời đầm ấm dịu dàng
Anh với em trời đất đã xe duyên
Để muôn kiếp trở thành chồng- vợ
Em còn muốn nhiều hơn thế nữa
Làm bạn thân và làm chị của anh
Ngủ đi anh giữa trăng thanh
Có em ôm ấp ru anh trọn đời…”

Khép lại bài viết này, tôi chỉ muốn bộc bạch tâm sự với bạn đọc yêu thơ cảm nhận của riêng tôi, rằng thơ Bùi Thị Sơn mới, và chưa mới! (Tôi đã từng “triết lý vặt” với những người “ nhiều chữ” thế này: “ Cái cũ không thể sinh ra cái mới, nhưng cái mới không bỗng dưng mà có, nó phải ra đời từ cái chưa mới . Cố làm ra cái mới thì thành… cái õng ẹo. Thơ õng ẹo có phải là thơ không?...Sự vụng về và ngây thơ đáng yêu dễ chịu, dễ chấp nhận hơn sự thuần thục đến mức đáng chán”!). Nhũng bài có nhạc điệu mới, có nét mới như bài TRAI RỪNG, NỤ CƯỜI NGƯỜI HÀNG XÓM không nhiều. Nhưng bù lại, tấm lòng Bùi Thị Sơn, cảm xúc dồn nén, chân tình, đôn hậu, đằm thắm…cái sức nhẫn nhịn để làm tròn bổn phận làm vợ, làm mẹ, với tình yêu thơ, say thơ, yêu con người, yêu cuộc sống cháy bỏng, hồn nhiên, cả nghị lực chiến thắng những “phút xao lòng”, đã tạo cho thơ Bùi Thị Sơn thứ nhạc điệu bên trong, từ cảm xúc mãnh liệt sản sinh sóng ngầm, sóng lừng, tạo một điệu tâm hồn, “ khía” vào lòng người, đánh thức những tình cảm tưởng đã ngủ yên trong ta, đánh thức và gợi nhiều suy ngẫm về chất thật sự CON NGƯỜI trong ta.
Tôi yêu thơ Bùi Thị Sơn chính bởi cái TÌNH THẬT lúc bộc lộ, lúc lặn sâu ấy, cái TẤM LÒNG hiếm hoi ấy! Và xin nhắc lại lời anh Mai Liễu: “…tình đời chắc mãi còn nồng ấm trên mỗi trang viết ấy”
Phương Liên.
---
GÁI NÚI

Tặng Bùi Thị Sơn- Tác giả bài thơ " Trai rừng"

Gái núi

tóc như vầng mây

mắt có lửa rừng

môi thơm mùi mật ong

Gái núi

chân băng rừng không sợ vắt sên

không sợ thú dữ

biết thổi đàn môi

thay lời tình tự

biết trao vòng nói nghĩa trăm năm

Gái núi đã yêu không sợ bão giông

Khi yêu dám bắt chồng thay ông Tơ, bà Nguyệt

Gái núi chẳng ngại chồng say khướt

Ẵm chồng lên lưng ngựa dắt về

Gái núi đã yêu chung thủy câu thề

Dẫu đá núi, cây rừng nghiêng ngả

Gái núi

gặp một lần đã nhớ

Như đỉnh cao mơ ước phía chân trời...

Nha Trang, 20/3/2006.

Nhà văn Nguyễn Gia Nùng



Xin mời các bạn vào nghe những bản nhạc hay về vùng cao
http://www.youtube.com/watch?v=IRIlNMek9jU&feature=related
http://www.youtube.com/watch?NR=1&feature=endscreen&v=-avjjE-tOsg
http://www.youtube.com/watch?v=4UKem7mJTDI&feature=related

Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2013

VU LAN CON NHỚ MẸ

VU LAN CON NHỚ MẸ.

Ba bẩy năm bố  đi xa
Tiếng khóc sao chửa vỡ òa trong con?
Nỗi đau ập đến dập dồn
Con không nén nổi, lệ tuôn ngược lòng…

Thương mẹ  vất vả long đong
Ngược xuôi tất bật thay chồng nuôi con
Giấu con  bao nỗi tủi hờn
Việc nhà, việc nước sớm hôm tảo tần

Đêm mẹ sàng gạo giữa sân
Mượn vầng trăng sáng, tập vần dạy con
Mẹ ủ giá đỗ sớm hôm
Cà, dưa muối để bán buôn cho người

Mong sao kiếm được chút tươi
Các con phấn khởi…mẹ cười rưng rưng…
Chủ nhật mẹ bước vào rừng
Hái măng, kiếm củi… còng lưng lặc lè…

Đông về tay mẹ  tái tê
Mò cua, bắt ốc dưới khe trong ngòi
Thương  đàn con nhỏ  cọc còi
Mẹ lùng tìm cóc khắp nơi về nhà

Xưa chẳng dám cắt tiết gà
Thấy con kiến ướt xót xa bội phần…
Nay đành  nén  chịu khấn thầm:
Cóc ơi! Xá tội ngàn lần cho tôi

Thương con, đành phải vậy thôi…
Đêm mơ vẫn thấy rụng rời chân tay…
…Hôm nay nhớ lại chuyện này
Mẹ ơi!hai mắt con cay, cay xè?

Ngày ấy, con đã tự thề:
Ra công tác sẽ trở về nhà thôi
Cùng mẹ trồng sắn ven đồi
Chăm đàn em nhỏ cút côi của mình…

Thế rồi lụy bởi chữ tình
Con  đi…để mẹ một mình âu lo
Lòng mẹ rộng lớn vô bờ
Quén vun hạnh phúc từng giờ cho con

Lớn rồi mà mãi chẳng khôn
mang hình hài mẹ…tâm hồn của cha
Cúi xin trời rộng bao la
Cho con mãi được cài hoa màu hồng

Vu Lan mẹ có hay không
Đêm con nhớ mẹ quặn lòng núi xa?

        Vu lan, 2011.
         Bùi Thị Sơn.

Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013


Ôi, hôm nay Gái Núi thật hạnh phúc khi tỉnh dậy nhận được bao nhiêu hoa và thơ của bè bạn xa gần tặng nhân sinh nhật 6/3 và ngày phụ nữ Quốc tế 8/3. Xin chân thành cám ơn các anh, các chị và các bạn. Do chưa biết tải ảnh hoa tặng mọi người nên GN đành khất mong được mọi lượng thứ nhé!
Gái Núi nhờ bạn gửi tấm hình chụp của Hội LHPN 3 cấp mà Gái Núi vinh dự có 1 khóa công tác. Chúc các chị em vui tươi, khỏe mạnh, xinh đẹp trong mắt chồng con và xã hội nhé ! Chúc các anh nửa kia thế giới luôn mạnh khỏe thành đạt và yêu phụ nữ nhiều hơn nữa nhé !

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2013

CON YÊU MẸ



Tản văn của Phùng Hải Yến
Con vẫn chưa bao giờ (kể cả những lúc choàng vai mẹ thỏ thẻ những lời âu yếm) thốt lên ba tiếng mà tận sâu trong tiềm thức của mình, con luôn ghi khắc.
Con nói "con yêu mẹ" khi những buổi trưa hè ngày con còn bé tí vẫn hay lén theo lũ bạn dưới cái nắng chói chang để tìm cỏ gà hay trèo cây hái phượng, mẹ không đánh mắng nhưng ánh mắt lo âu hằn in trên gương mặt mẹ mỗi đêm trông con bị ốm, rồi sốt mê man. Khoảnh khắc đó con thấy mình có lỗi với mẹ hiền.
Con nói "con yêu mẹ", trong khi lũ bạn con hè nào cũng chạy nhảy tung tăng tối ngày còn con lúc nào cũng ngồi nhà chờ cha mẹ đi làm về, y hệt như lời tụi bạn con nó bảo là "cấm cung" vậy. Cho đến khi mẹ nói với cha mỗi kỳ nghỉ gia đình mình sẽ cùng đi đến một nơi nào đó để thư giãn. Con chợt thấy rằng ở trong mái nhà của chúng ta đã là quá ổn.
Con nói "con yêu mẹ" khi vô tình đọc được dòng nhật ký mẹ viết ngày con còn nhỏ. nỗi nhớ nhung vô bờ vì phải xa con khiến cho con xúc động đến nghẹn ngào, đã bao lần con thầm trách vì ngay từ khi con còn bé xíu mẹ đã vội vàng đi học để con phải ở nhà một mình với bố... Dòng chữ như thấm tan vào những giọt nước mắt mặn chát, dâng trào trong con nỗi ân hận về những suy nghĩ ngốc nghếch kia.
Con nói "con yêu mẹ" vì trong lớp con đã cố gắng học thuộc bài "mây và sóng" của TAGOR bài thơ mà ngày học lớp 6 con đã nói với mẹ bài thơ này ông tác giả viết để tặng riêng mẹ con mình ý). Để khi về đến nhà lại rủ mẹ cùng chơi trò chơi đầy thú vị ấy. tiếng cười của con âm vang khi con giả làm mây, mẹ làm gió và mái nhà ta là bầu trời; Khi con làm sóng, mẹ làm mặt biển xanh; Vâng! Lúc trên lớp con đã nhủ lòng như vậy, thế nên buổi tan học nào con cũng muốn mau chóng về đến nhà chứ không la cà ngoài phố hay rẽ vào đâu đó theo lời rủ rê của bè bạn. Vì con biết mẹ vẫn đang ở nhà chờ cha và con bên những bữa cơm đầm ấm và hạnh phúc.
Con nói "con yêu mẹ" mỗi khi đi học về, ngước mắt lên nhà lại thấy lung linh một màu hoa vàng rực như nắng. Loài hoa bất tử và cái biển mà mẹ đã tỉ mẩn khắc ghi hai tiếng CON YÊU khiến con vô cùng kinh ngạc. Mẹ đã nâng niu các loài hoa ấy trong những chuyến bay từ Nam ra, chỉ vì một câu nói thích sau khi con đọc câu chuyện cổ về các loài hoa ...
Con nói "con yêu mẹ" vì cho đến tận bây giờ, con mới thực lòng hiểu rõ những ý nghĩa ẩn sâu trong cái tên mẹ đặt cho con thông qua một bài thơ. Bài thơ con đã thuộc từ năm học lớp 2 nhưng đến giờ con mới thực sự "thuộc" nó trong chính tâm khảm của mình. Cũng giống như bài "chiếc nôi" của cha vậy, làm sao có thể quên những tình cảm ấm áp đầy gắn bó này?
Con nói "con yêu mẹ" khi con đi thi cuộc thi "nét đẹp đội viên" lần đầu tiên. Mẹ chăm chút, mẹ lo lắng, mẹ hồi hộp như chính mẹ phải tham dự chú không phaỉ con nhóc lớp 6 kia. Khi nhận giải thưởng, nhìn về hàng ghế khán giả, ánh mắt động viên xen lẫn tự hào của mẹ đã khiến con nghĩ rằng đó chính là giải thưởng cao nhất. Để mai này dù có nhận những giải khác, không có mẹ nơi hàng ghế đó nữa nhưng lúc nào hình ảnh ấy cũng theo con như chính sự vĩnh hằng của nó trong trái tim con vậy.
Con nói "con yêu mẹ" mỗi khi con kêu ca, phàn nàn về những cô giáo dạy văn cấp 2. Mẹ đã phải ân cần chỉ dạy lại cho con toàn bộ phần kiến thức. Con đã từng ghen tị khi nghe các anh chị cấp 3 nói rằng mẹ giảng văn rất hay, con ghen tị vì không được học một tiết nào của mẹ mà quên mất rằng đã bao lần mẹ giải nghĩa cho con một từ khó, hay là hướng dẫn cho con một cách hiểu khác về một thi phẩm hay. Chẳng phải cha đã từng nói nhà mình có một cuốn "từ điển sống" đó sao?
Con nói "con yêu mẹ" khi căn bệnh cao huyết áp và cả cái bệnh liệt dây thanh thi thoảng vẫn hành hạ mẹ. Con ghét những căn bệnh làm mẹ đau bởi lúc ấy nhà mình ngưng bặt cả tiếng nói cười. Song ngay cả khi ấy mẹ vẫn cố gắng nhắc cha , dù lời nhắc đó thật khó khăn và đầy mệt mỏi: "Mai con thi vòng tỉnh đấy, anh ạ !". Con nói "con yêu mẹ" khi tình cờ đọc được một câu danh ngôn như thế này: "cuộc đời là một chiếc chăn hẹp, nếu có người kéo nó về phía mình thì sẽ có người phải chịu lạnh". mẹ đã chăm lo cho con, cho anh, cho cha quá nhiều rồi! Có bao giờ do vô ý mà chúng con khiến mẹ phải chịu "lạnh" không? Khi nụ cười hạnh phúc luôn rạng ngời trên môi mẹ. Con đã tìm thấy quà tặng cuộc đời ngay từ chính nụ cười - niềm tin đó .
Con nói "con yêu mẹ" khi con biết những hy sinh lớn lao của mẹ khi quyết định theo cha đến một chân trời xa lắc thế này. Con nhớ lần các dì đến nhà ta trong một mùa hè, trước lúc lên xe dì Hằng đã ôm chầm lấy con mà khóc: "Dì thương mẹ con quá! Ở nơi xa xôi thế này, các con phải nghe lời mẹ nghe chưa?". Con nhớ những trăn trở, âu lo hiện hữa trong mẹ mỗi khi dì Hà điện ra là do trời trở gió mà ngoại lại ốm. Bà vẫn nói mẹ là đứa con tình cảm nhất mà lại phải ở xa bà quá còn gì ?
Con nói "con yêu mẹ" vì con biết mẹ đã hy sinh nhiều hơn thế nữa. Những giảng viên bạn của mẹ khi con đi thi đại học đã nói rất nhiều về cô thủ khoa 12 tỉnh ngày nào để con biết thêm rằng: hạnh phúc nghĩa là phải đánh đổi một điều gì đó quý giá tương tự. Con biết chỉ một lời nói của cha con: "Vì anh em đã bỏ tất cả, anh cũng sẽ vì em mà làm tất cả cho gia đình nhỏ bé này" - như vậy - đối với mẹ - đã là tròn vẹn, viên mãn lắm rồi !
Con nói "con yêu mẹ" - trước khi bước vào vòng thi quan trọng nhất đối với con ngày học 12, mẹ nói với con rằng giải thưởng không quan trọng, chỉ cần con bước vào phòng thi này - với mẹ - đã là cả niềm tự hào lớn lao. Và rồi con biết dù mai sau có thế nào đi chăng nữa con không thể quên những lời khuyên nhủ quá đỗi chân tình như vậy.
Con nói "con yêu mẹ" khi con buồn phiền vì sự học ngoài trường phổ thông qúa đỗi bất công và con mất đi niềm tin, con âu lo vì cuộc sống của người lớn quá đỗi phức tạp chứ không an lành, vô tư như thủa còn thơ ấu. Mẹ đã dạy con điều gì? Thay vì học để lấy thành tích con hãy học cho mình. Và thế là đủ. Kiến thức quyết định thành công đôi khi không phải vì điểm số. Con đã dứng dậy từ những lời khuyên ý nghĩa đó mẹ à!
Con nói "con yêu mẹ" khi mẹ lắng nghe những lời con tâm sự, về những cảm xúc vu vơ hay những mẩu chuyện bâng quơ song với con nó lại là "chuyện lớn". Câu hỏi: "Mẹ bảo con phải làm sao bây giờ?" luôn đi kèm với "Cái người đáng ghét cứ làm con giận hờn". Mẹ thủ thỉ dịu dàng trước những tình huống ngốc nghếch con đặt ra. Nhưng lúc nào mẹ cũng là người nói câu cuối cùng: "đi học tiếp đi nhóc! Mẹ không muốn con khoái bay vù vù lên không trung mà không ổn định tư tưởng học hành đâu đấy!" Con biết, vì mẹ yêu con nên mới có thêm câu nói đó mà.
Con nói "con yêu mẹ" khi tất cả những đứa bạn đều nói con có một người mẹ tinh tế đến tuyệt vời. Con nói "con yêu mẹ" vì cuộc sống của con luôn được chở che trong tình thương bao la, hiền hoà từ mẹ .
Con nói "con yêu mẹ" đơn giản chỉ vì mẹ đỡ lời cho con với cha sau câu nói: “vừa ăn vừa đọc là phản khoa học". Mẹ đã bênh vực con thế nào ấy nhỉ? "ngày xưa em cũng thế, anh có mắng em đâu". Nhưng khi chỉ có hai mẹ con, mẹ lại ân cần nói nhỏ: “đọc thì đọc mà con phải chú ý đấy nhé! mẹ không muốn con chủ quan vậy đâu, nó sẽ bị ảnh hưởng ở tương lai đấy!"
Và dù có trăm ngàn chuyện bé xíu xìu xiu giữa con và mẹ, trong những lúc đó con đều thảng thốt nói “con yêu mẹ ". Tiếng vọng từ trái tim sẽ chỉ đập trở lại khi nó đi ra từ trái tim. Phải vậy không mẹ ?
Ngàn lần, ngàn lần con nói YÊU MẸ - giống như con biết dù mẹ không nhấn phím CAPSLOCK thì ngay giữa trái tim mẹ cũng có hình bóng cánh chim nhỏ bé này - bởi nó đã được viết hoa quá đậm và sắc nét .
Con là một con bé cứng rắn và có bề ngoài lạnh lùng, quyết đoán giống cha những trong sâu thẳm tâm hồn lại đa sầu đa cảm và yếu đuối giống mẹ. Con không muốn khác đi, sẽ mãi không khác đi vì con yêu những gì mình đang sở hữu, cũng như tình yêu không nói thành lời của con với cha mẹ vậy.
Mai này cũng sẽ như thế! Con yêu một câu thơ của Xuân Quỳnh vì nó nói về tâm trạng của một người con luôn hướng về nguồn cội. Dù rằng nếu câu thơ ấy đặt vào hoàn cảnh của con và mẹ sẽ phải đổi một chút về vị trí địa lí .
"Mai con về với biển, với mẹ thôi!
Con không thể làm phù du cánh mỏng.
Và gió hỡi! Thổi bùng lên khát vọng,
Núi sẽ thấp dần, mặt trời mọc ... Mẹ ơi!”

Viết năm vừa tốt nghiệp lớp 12- P.H.Y

Thứ Tư, 27 tháng 2, 2013

SƯU TẦM BÀI YÊU THÍCH



Tìm thơ hay thế kỉ mới

Nguyễn Vũ Tiềm
Thứ tư ngày 27 tháng 2 năm 2013 9:07 PM


 Tôi đi tìm và nhớ lại...
Hơn mười năm trước, mở đầu thế kỷ mới, cũng là mở đầu thiên niên kỷ mới, cả nhân loại tràn ngập niềm vui, đồng thời lại nín thở hồi hộp với sự cố Y2K.
Lỗi thiên niên kỷ!
Thời đại công nghệ tự động hóa, các máy tính sẽ nhận dạng ngày 1-1-2000 giống y như ngày 1-1-1900! Nguy hiểm quá! Các cầu thang máy, hệ thống quản lý tài khoản ngân hàng, hệ thống điều khiển không lưu, điều khiển việc kiểm soát các kho vũ khí hạt nhân… tất cả sẽ bị đảo lộn nếu không kịp thời khắc phục lỗi này.
Cả thế giới phải chi hàng nghìn tỉ đô la để khắc phục: lập trình lại các hệ thống, thay thế các phần cứng cũ; bỏ phần mềm lỗi thời, cài đặt những phần mềm tinh xảo siêu việt hơn; sử dụng cơ chế đọc số năm theo dạng đầy đủ 4 chữ số thay cho 2 chữ số của thế kỷ trước suýt làm cho sự cố Y2K trút thảm họa lên đầu nhân loại.
Sự kiện này là lời nhắc thiên niên kỷ!
Các nhà thơ, những người vốn có ăng ten nhanh nhạy nhất không thể không nghe thấy lời nhắc này và không thể không giật mình: thế thơ có chuyển động không, hay vẫn theo nếp cũ của thế kỷ trước?
***
Yêu cầu đổi mới, cách tân là đòi hỏi thường xuyên bức thiết đối với mỗi nhà thơ, nhưng ở mỗi cột mốc quan trọng của thời gian thường có những cú hích mạnh, tạo ra những chuyển động đặc biệt mang “dấu ấn lịch sử”. Nhiều cuộc hội thảo chuyên đề thơ của Hội Nhà Văn Việt Nam và ở các Hội địa phương đã góp phần thúc đẩy sự chuyển động cách tân thơ. Đặc biệt là hai cuộc hội thảo về thơ của hai nhà thơ Đồng Đức Bốn và Mai Văn Phấn do Hội Nhà Văn VN và Hội Văn học Nghệ thuật Hải Phòng tổ chức, cuộc hội thảo “Thơ Việt Nam hiện đại & Nguyễn Quang Thiều” do Viện Văn Học Việt Nam tổ chức có tiếng vang, gây ấn tượng sâu sắc trong đời sống văn học nước nhà.
Sự chuyển động rầm rộ của thi đàn Việt Nam ở đầu thế kỷ 21, ta thấy có nhiều nét tương đồng với thơ Việt ở đầu thế kỷ 20. Tương đồng ở sự chuyển từ cũ sang mới; từ quen sang lạ; từ dễ sang khó; từ mượt mà êm ái sang gồ ghề khúc khuỷu; từ dễ đọc dễ thuộc, dễ ngâm ngợi sang suy ngẫm liên tưởng sâu xa, minh triết… đặc biệt nhất là những đổi thay về thi pháp nghệ thuật…
Thơ Việt Nam thế kỷ 21 tiếp nối dòng chảy của các thế kỷ trước nhưng có nhiều mới lạ. Mới lạ đến ngỡ ngàng, gây nhiều tranh cãi quyết liệt, nhiều sự đánh giá ngược chiều nhau. Nhất là thời đại thông tin hiện nay, báo mạng phong phú và cực kỳ nhanh nhạy, những cuộc tranh cãi nhiều lúc làm cho bầu không khí văn chương sôi sùng sục. Nhiều trường hợp không giữ được bình tĩnh, một số bạn đã quá nặng lời (có cả mạnh tay) với đồng nghiệp. Cuộc “chuyển giao thế kỷ ngoạn mục” trên thi đàn Việt đang diễn ra!
***
Xin phép ngoái lại một chút để nói điều này. Thơ hay đạt tới độ toàn bích thường có khả năng vượt thời gian, xuyên thế kỷ. Tôi tạm phân làm bốn cấp độ.
Cấp độ một: Thơ rung động tâm hồn, dễ thuộc, dễ nhớ.
“Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều…”
                                                        Nguyễn Bính           
“Cây dài bóng xế ngẩn ngơ
Hồn anh đã chín mấy mùa thương đau
Vai anh, em hãy tựa đầu
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi”
                                                           Huy Cận
Cấp độ hai: Thơ gây ấn tượng sâu sắc.
“Ai chiến thắng mà không hề chiến bại
Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần…” 
                                                             Tố Hữu
“Trong khóm vi lau rào rạt mãi
Tiếng lòng ai nói? Sao im đi?
Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe…” 
                                                         Hàn Mặc Tử
Cấp độ ba: Thơ tạo nên nỗi ám ảnh khôn nguôi.
“Có một người nghèo không biết Tết
Mang lì chiếc áo độ thu tàn
Có đứa trẻ thơ không biết khóc
Vô tình bỗng nổi tiếng cười ran…”
                                                         Chế Lan Viên
“Trái đất ba phần tư nước mắt
Đi như giọt lệ giữa không gian…”
                                                             Xuân Diệu
Cấp độ bốn (cao nhất): Thơ khiến cho người ta nghĩ khác, sống khác đi.
“Anh hùng khôn luận nơi thành bại
Thà chết còn hơn mất tự do…” 
                                                         Hồ Tùng Mậu
“Bố tôi nhìn tôi bằng cái nhìn vuốt mắt…”
                                                      Phùng Khắc Bắc
Trước khi ra trận, hai bố con đã nhận biết mức độ quyết liệt và thử thách cao nhất của cuộc chiến một mất một còn. Nhìn đứa con lần này rất có thể là lần cuối. “Cái nhìn vuốt mắt”, đau nhói tim ta! Những người sẵn sàng chấp nhận cái chết thì còn có kẻ thù nào, sức mạnh nào ngăn cản được họ?
Đọc câu thơ trên, chúng ta nghĩ khác về cuộc chiến và sống khác trong cuộc đời.
Trước những câu thơ tài hoa đặc sắc của thế kỷ 20 trích một cách ngẫu hứng trên đây, tôi rưng rưng xúc động và cảm phục.
***
Thơ ở đầu thế kỷ 21 có gì đặc biệt?
Mỗi nhà thơ có sự tìm tòi sáng tạo của riêng mình, có thất bại, có thành công bước đầu, có những thể nghiệm dở dang và phần lớn là chưa có hồi kết cho nên câu trả lời dẫu cẩn trọng và thấu đáo đến mấy cũng vẫn là vội vã.
Lớp nhà thơ có thành tựu từ thế kỷ trước, nhiều người như Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương, Bằng Việt, Thanh Thảo, Thi Hoàng, Hoàng Hưng, Lê Khánh Mai, Inrasara, Trương Nam Hương, Từ Quốc Hoài… có những bứt phá ngoạn mục trong việc tự đổi mới thơ mình, vẫn đang đồng hành cùng lớp trẻ ở thế kỷ mới.
Trong quá trình đi tìm thơ hay thế kỷ mới, (tìm chứ chưa phải tuyển chọn), tất nhiên là phải nhìn tổng thể, nhưng tôi chú ý tìm hiểu nhiều hơn ở lớp nhà thơ mới của thế kỷ mới và nhận ra mấy điểm:
*Thơ đầu thế kỷ 21 dường như không đáp ứng yêu cầu dễ đọc, dễ thuộc và rất khó ngâm ngợi, chỉ dành cho nghĩ ngợi. Nghĩ ngợi và cảm xúc. “Ôi con đường của thời gian chỉ mình ta hiểu được/ Trong đôi mắt em buồn” (Nguyễn Chí Hoan). “Hôn nhân nằm trên giấy tờ/ Tình yêu kí kết trong tim”  (Yên Trang). “Cầm cặp vé cửa ga số phận/ Cầu cho em/ ngày nhỡ chuyến tàu” (Nguyễn Công Bình).
*Thơ tối giản những thủ pháp tu từ, gần với văn xuôi, câu dài ngắn bất kỳ, giản dị mà sâu sắc: “chạy đến ga cuối cùng, con tàu dừng lại/ ông già không xuống tàu/ Quay lại ga đầu tiên, con tàu dừng lại/ ông già không xuống tàu/ người lái tàu hỏi ông già về đâu/ ông già hỏi con tàu về đâu…” (Thạch Quỳ). “Chúng ta có phải là thần/ bị biến thành người/ để có thể cảm thấy cái chết/ Chúng ta có phải là quỷ/ được biến thành người/ để có thể cảm thấy tình yêu?” (Đặng Chân Nhân).
*Xác lập tương quan mới làm mới ngôn từ: “cơn bão từ vựng; núi đồi thanh âm; thác ghềnh cú pháp…” (Trần Quang Quý); Hoặc: “cầm ly ngày mai trên tay” (Đặng Huy Giang). “Uống từng ngụm ngày/ giọt ban mai/ giọt hoàng hôn/ từng giọt đời ngai ngái cỏ…” (Đoàn Mạnh Phương); “Lấy dao/ tìm tre/ chẻ và vót cơn giận dữ…”  (Lê Va). “Em giặt giũ nỗi buồn/ Trắng tinh phiền muộn/ Phơi vào đêm phần phật bão giông”  (Huỳnh Thúy Kiều). “Những cánh đồng cuối cùng lên huyết áp…/ anh tự cứu mình bằng kháng sinh thơ” (Trần Hoàng Nhân)
  *Tạo tình huống bất ngờ: “Đêm qua những con cá bơi  quanh chiếc giường/ Ngửi chúng ta rồi bỏ đi/ Và bực dọc nói:/ Chúng ta không bao giờ ăn những con mồi chết...”  (Nguyễn Quang Thiều) “Một ngày gió nâng tôi lên cao/ gió trao tôi đôi cánh/ và bảo tôi hãy cởi gió ra/ và bay lên trên ý nghĩ” (Nguyễn Phan Quế Mai). Hoặc hình ảnh bất ngờ: “Mặt trời được giữ lại làm con tin”  (Thi Nguyên); “Nhìn xuyên qua kẽ ngón tay/ Lại nghe thác đổ mới hay tấm lòng/ Thì ra bốn chục năm ròng/ Nhà em mái lợp giữa vòng tay anh”. (Phan Ni Tấn - Ở Canada)
   *Tinh tế và sâu sắc: “Tro của tiếng chim/ của lá/ của hoa/ rơi lả tả trong chiều cùng xác nắng…” (Tuyết Nga); “Khúc nam ai, những cung phi góa bụa/ Chèo thuyền vớt xác mình trên sông…” (Phan Huyền Thư). Hoặc: “đám @ đánh võng phóng như bay/ thời gian ngã, máu tuôn, thời gian không thể dậy/ tốc độ ư ?/ thì cũng cũ lắm rồi…/ ta lớn lên bằng kiếm tìm/ kiếm tìm giờ đã cũ ...“ (Nguyễn Bình Phương). ”Tôi ôm rổ mắt ngồi chơi/ Để xem tấp nập người đời lại qua/ Tôi đem rổ mắt làm quà/ Khóc cho hết thảy gần xa phận người”. (Lợi Hồng Diệp - ở Ba Lan)
*Trừ thơ lục bát, còn nhìn chung là thơ tự do đã bỏ hết vần, chỉ giữ lại nhịp điệu. Nhiều khi nhịp điệu lại cũng rất trúc trắc gập ghềnh gây khó khăn cho người đọc, (nhưng cuộc sống chả đầy gập ghềnh trắc trở đó sao?).
*Thơ mở ra nhiều hướng liên tưởng mênh mang, đa chiều đa nghĩa để rồi ở mỗi người đọc ở mỗi hoàn cảnh khác nhau, thời gian khác nhau, những câu thơ được sáng tạo thêm một lần nữa, sống thêm một đời sống nữa, nhiều đời sống nữa (nhiều khi ngoài ý tưởng của tác giả): Những bài: Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ (Mai Văn Phấn); Luân Hồi (Lê Thành Nghị); Những câu: “Chiều có thể nghiêng, mưa có thể buông, đá có thể khóc... /... Nhổ khóm hoa vàng để mà được vục vào với bụi, với phân, với đất / Gió ợ mùi chua, tình đã dậy men, đất hình như mặn” (Lãng Thanh).
*Tiếp nhận thơ, nhiều trường hợp đòi hỏi một năng lực, trình độ nhất định nào đó, bởi thơ không còn là biểu tượng một mặt như trước mà biểu tượng nhiều mặt, bạn đọc có thể hiểu thế nào cũng được, chính vì thế dễ gây nên sự khó hiểu. Những bài: Mở nút áo (Ly Hoàng Ly); Đêm ngủ trong chùa (Nguyễn Đức Tùng – Nghệ thuật mới số 11)
Ào ạt sục sôi như Vi Thùy Linh, Phan Trung Thành, Thủy Anna, Đỗ Doãn Phương, Đinh Thị Như Thúy, Nguyễn Hữu Hồng Minh; lại trầm lắng cẩn trọng như Phạm Khải, Nguyễn Quyến, Bình Nguyên Trang, Ngô Liêm Khoan; trực diện đối thoại với thói quen như Phan Hoàng; quyết liệt từ bỏ thói quen như Nguyễn Đăng Khương, Trịnh Sơn; gắn bó với tuổi trẻ và cuộc sống như Nguyễn Phong Việt, Vũ Thiên Kiều, hay“từng trôi qua những tích tắc tử thần” như Nguyễn Thúy Quỳnh, “Tập làm người sốt ruột ngày mai” như Lê Thiếu Nhơn, mong “Thời gian ơi cho tôi quá giang một đoạn” như Thi Nguyên… đặc biệt Đặng Chân Nhân (sinh năm 1993) đang du học ở Anh Quốc, nhiều bài anh viết bằng tiếng Anh rồi sau đó mới dịch sang tiếng Việt, đoạn trích trên trong bài Life 3… đều đã từng khiến người đọc phải ngỡ ngàng, nhiều phen giật mình thon thót!
*Thơ chú ý đến ý tưởng toàn bài nhưng lại ít quan tâm đến cấu tứ nên bài thơ thường dàn trải miên man. Phần đông thường dừng lại ở hình ảnh, ít quan tâm đến xây dựng hình tượng, biểu tượng nên có ý tưởng độc đáo nhưng rất hiếm câu thơ tài hoa. Do vậy những bài thơ hay, lưu lại được trong tâm tưởng người đọc còn quá ít trong khi thơ được in ra hơi bị nhiều.
Nhưng mà không sao, mới chỉ có một con giáp (12 năm), hãy để tranh cãi, va đập và thương tích đớn đau nhiều hơn nữa! 
Với một số ưu điểm mới mẻ trên đây, rõ ràng thơ đương đại (hay hậu hiện đại trong đó có yếu tố thi pháp nghệ thuật mới) yêu cầu cao hơn trước rất nhiều. Một xã hội phát triển, đòi hỏi mọi lĩnh vực đều phải gắng sức đạt những đỉnh cao nhất, có những sản phẩm chất lượng cao nhất đặng cạnh tranh với toàn cầu. Thơ không lẽ là ngoại lệ?
Tất nhiên thơ của thế kỷ mới thì thuộc về lớp người của thế kỷ mới, nhưng đó là cơ chế thông thường, “hành chính”, thơ ca còn có quy luật riêng, không ít ngoại lệ: có khi người già mà thơ rất trẻ và ngược lại. Bài “Cây chuối rừng” của Nguyễn Khoa Điềm, bài “Ông già nghễnh ngãng” của Thạch Quỳ, bài “Luân hồi” của Lê Thành Nghị, bài “Biển thầm”  của Lê Khánh Mai, bài “Bài thơ tả mây” của Lê Vĩnh Tài, bài “Tượng hình” của Thanh Tùng, bài “Bên tượng linga” của Hoàng Vũ Thuật, bài “Anh chiếm chỗ bóng đêm” của Trương Đăng Dung, bài “Vọng trắng” của Võ Tấn Cường… nói chung đều có những tìm tòi mới mẻ trong ý tưởng và bút pháp là những ví dụ khá thuyết phục.
Tôi rất chú ý tìm đến những nhà thơ trẻ hăng hái đổi mới, cách tân, nhưng mới chỉ gặp một số it có thành tựu, còn phần nhiều mới chỉ ghi nhận ở sự gắng gỏi về hình thức, còn nội dung sâu sắc độc đáo thì quá hiếm hoi, hoặc có ý tưởng nhưng chưa đến độ, chưa thuyết phục lắm.
Tìm tòi khám phá là quý, nhưng một số trường hợp quá xa vời, bước quá đà ra ngoài quỹ đạo thơ, gây khó khăn cho sự tiếp nhận, dễ mất công chúng, dẫn đến sự giống nhau ở nhiều tác giả, giống nhau ở chỗ cùng nói những điều không đâu vào đâu, nói lấy được trong một dàn đồng ca bế tắc. Bài học mất công chúng của thơ Pháp, thơ Mỹ và một số nước khác đang diễn ra đáng để chúng ta suy nghĩ.
Mặt khác, nhiều nhà thơ từng có thành tựu ở thế kỷ trước, sang thế kỷ mới, sức viết vẫn dồi dào, điêu luyện tinh xảo hơn nhưng là sự điêu luyện trong những thao tác quen thuộc đã cũ do vậy giờ đây cũng không còn mấy thuyết phục.
Trước kia thơ có vần, đọc lên nghe uyển chuyển du dương dễ thuộc, dễ ngâm ngợi nhưng cũng dễ đánh lừa ta. Nhiều khi nội dung, ý tưởng không có gì, câu chữ sáo mòn trống rỗng nói những điều hiển nhiên ai cũng biết cả rồi, nhưng được đọc diễn cảm, hoặc ngâm, lại thêm đàn sáo phụ họa nữa, nghe rất mùi mẫn. Loại “dựa dẫm vào vần” như thế chỉ giống như thơ mà thôi chứ nghiêm túc thì không thể gọi là thơ được.
Yêu cầu của thơ là rung cảm tâm hồn, lay động tâm can. Không có ý tưởng gì đặc biệt, mới lạ, sâu sắc thì rung với lay được cái gì?
Thời trước, nhịp vần, niêm luật dễ che đậy những khuôn sáo dễ dãi, nay các tân hình thức và nhiều cách đổi mới táo bạo khác cũng dễ che đậy những nhược điểm tương tự. Thơ xếp chữ hình thoi, hình tam giác, hình cái hoa, cái lá, hóa trang ngôn từ, vặn xoắn, chẻ đôi chẻ ba âm tiết cho dị hình dị dạng, lục bát cắt vụn, xuống dòng nhiều lần… ít mang lại hiệu quả thẩm mỹ gì.
Một điều dễ nhận thấy: thơ hay của đầu thế kỷ 21 vừa gần gũi lại vừa khác xa với thơ hay của thế kỷ 20. Mới vào đầu thế kỷ đã có dấu hiệu vui thế rồi, sau nữa chắc chắn sẽ hay hơn, mới hơn.
Những chuyển động đổi mới của thi đàn Việt Nam đầu thế kỷ 21 đã trở thành trào lưu, khuynh hướng chưa? Tôi nghĩ đã và đang! “Cuộc chiến bút giấy, mạng” có hồi còn quyết liệt hơn cả thời thơ mới - thơ cũ ở thế kỷ 20. Thậm chí còn xuất hiện hiện tượng lạ lùng: có nhà thơ sốt sắng “dịch thơ Việt ra thơ Việt”, thực chất là dịch thi pháp nghệ thuật mới trở về thi pháp nghệ thuật cũ! Có lẽ anh cho là độc giả không tiếp nhận được nên phải mất công làm cái việc “dịch” kỳ quặc này. Một việc làm cổ kim đông tây chưa từng có. (Hãy xem các cụ ta hồi đầu thế kỷ 20 có cụ nào “dịch” thơ Thế Lữ, Xuân Diệu, Chế Lan Viên… trở về thơ thất ngôn bát cú đâu…) Nhưng đây cũng là một minh chứng để thấy rõ rằng có sự khác biệt rất đáng kể giữa cũ và mới thật sự chứ không phải mơ hồ..
Buồn hơn nữa là vẫn còn những tai nạn thơ như quy chụp cho bài thơ “Lời cây dầu ở trước trụ sở UBND”, tác giả bị đưa ra kiểm điểm ở Đồng Nai năm 2012.
Về cái chuyện vần của thơ, tôi nghĩ cũng nên xem lại. Để cho dễ thuộc dễ nhớ là một ưu thế đặc biệt chứ, nỡ nào lại bỏ vần đi? Nhưng may quá, tổ tiên ta đã để lại một di sản vô giá là thơ lục bát, giờ đây thể thơ thuần Việt này đảm đương sứ mệnh lớn lao là gìn giữ yếu tố vần cho thơ Việt được tồn tại vĩnh cửu.
***
Nếu như ở thế kỷ trước “Một người đi chật cả con đường” (Nguyễn Duy) thì bước sang thế kỷ này hệ thống đường xá hữu hình và vô hình, thực và ảo, sóng mặt đất và sóng vệ tinh… đến độ biến thế giới tròn thành thế giớ phẳng; một nhà thơ ở Thái Bình có đôi chân bất động, nhưng chỉ với ngón tay nhấn chuột anh đã trò chuyện với bạn thơ ở bất cứ nơi nào trên thế giới… thì chân trời sáng tạo tất yếu được mở ra vô biên, thơ đi vào cõi sâu thẳm tâm hồn, chia sẻ với mọi cảnh ngộ và số phận con người; khái niệm tự do cũng có màu sắc và hương vị khác: “Trang giấy trắng – cõi tuyệt kỳ im lặng/ nơi Tự do nuôi bởi máu ngôn từ” (Đỗ Trọng Khơi).
Giữa biển thơ mênh mông, tìm những bài thơ sâu sắc, mới lạ tiêu biểu cho những bài thơ hay ở những năm đầu thế kỷ mới để thưởng thức, học tập; bình ít bài, còn lại thì lưu trữ làm kho báu. Công việc rất lý thú này tôi mới chỉ bắt đầu, đang tiếp tục, cập nhật, hào hứng.
Vì mới đang đi tìm nên có chỗ tới, có chỗ chưa tới, mới gặp được người này mà chưa gặp được người kia… thôi thì biết đâu tâu đấy. Rất mong được các nhà thơ và bạn đọc góp ý, phê bình.
               TP. Hồ Chí Minh ngày Tam hợp: 12 tháng 12 năm 2012

BÌNH MỘT SỐ BÀI THƠ HAY THẾ KỶ MỚI
NGUYỄN QUANG SÁNG
Rượu
Trong mâm rượu
Nếu nói xấu người vắng mặt
Rượu sẽ thành thuốc độc.
Trong mâm rượu
Nhắc nhớ người vắng mặt
Rượu sẽ ngọt ngào nước thánh
Ta rót vào hồn nỗi nhớ thương.
Lời bình
Chỉ biết Nguyễn Quang Sáng qua văn xuôi, tôi ngạc nhiên thấy ông viết bài thơ trên trong tập thơ giấy dó bán đấu giá trong ngày thơ Việt Nam lần thứ 5 của Ban Thơ Đương đại Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh (thu được 286 triệu đồng làm quà tặng trẻ em nhiễm chất độc da cam). Tôi hỏi ông về bài thơ này, ông nói:
 -Tôi làm thơ từ lâu, và vẫn thường làm, nhưng thơ tôi dở, không dám đưa đăng báo. Rượu là một trong những bài thơ dở đó của tôi. Tôi cho là từ chất liệu đời sống trở thành văn chương giống như gạo nấu thành cơm và rượu. Văn xuôi của chúng tôi là cơm, thơ là rượu. Thơ là tinh chất của cuộc đời.
 Thơ và rượu, cổ kim đông tây đã đề cập đến nhiều nhưng so sánh như trên vẫn là những ý mới mẻ lý thú.
 Trong bài Rượu, Nguyễn Quang Sáng đặt vấn đề về giao tiếp ứng xử bên mâm rượu, qua đó mỗi người tự thể hiện mình một cách rõ ràng nhất: hay dở, đúng sai, cao thượng hay thấp hèn… bộc lộ hết mình khó có gì che đậy.
 Trong mâm rượu
Nếu nói xấu người vắng mặt
Rượu sẽ thành thuốc độc.
Chữ “thuốc độc” có nặng quá không? Hơi bị cực đoan chăng? Để dễ chấp nhận, thử thay bằng chữ nào đó nhẹ hơn một chút, chẳng hạn như “cay đắng”? Thì chính rượu đã phảng phất vị đó rồi. Suy ngẫm kỹ thì thấy đây là câu nhắc nhở nghiêm khắc cần thiết đối với tất cả mọi người. “Rượu vào lời ra”, lời hay và lời dở, nói xấu người vắng mặt, nói sau lưng là tự bộc lộ cái chất tiểu nhân hèn mọn của bản thân mình. Từ đó rượu lại dễ dẫn dắt ta tới những động thái bất thường khác, dễ đưa ta vượt qua cái ngưỡng từ tốt qua xấu từ sang ra hèn, mất nhân cách thậm chí thành thú tính chỉ trong một thoáng chốc! Trong thực tế thiếu gì những chuyện đau lòng do rượu gây nên. Như thế không nguy hiểm chết người sao? Chữ “thuốc độc” có tác dụng như ly rượu mạnh, trở thành từ rất đắc địa. Văn chương giống như rượu vậy, không chấp nhận sự nửa vời, trung tính, pha loãng.
Trong mâm rượu
Nhắc nhớ người vắng mặt…
Chưa phải là ngợi khen hay nói tốt, chỉ cần nhắc nhớ thôi cũng đã quý lắm rồi. Chữ “nhắc nhớ” rất gợi, dễ rung lên những sợi ân tình từ thẳm sâu tiềm thức.
Rượu sẽ ngọt ngào nước thánh
Cũng một ly rượu mà sự khác biệt ghê gớm quá: thuốc độc giết người với nước thánh cứu người. Đoạn trên nghiêm khắc nhắc nhở, đoạn dưới thủ thỉ ân tình chứa chan nhân ái:
Ta rót vào hồn nỗi nhớ thương.
Là “nước thánh”, trong đó nỗi nhớ thương hòa vào ly rượu thấm đẫm tâm hồn ta. Nguyễn Quang Sáng trải nghiệm nhiều, ông đúc kết tình người, lẽ đời trong một bài thơ ngắn: từ đây lại đặt ra vấn đề không nhỏ trong cuộc sống, có thể khái quát thành một phạm trù văn hóa, đó là văn hóa trong tiệc rượu, gọi một cách dân dã kiểu Nam Bộ là văn hóa nhậu.
Giống như bản tính thẳng thắn bộc trực của tác giả, bài thơ không hoa lá màu mè đi thẳng vào cốt lõi nhân văn, đụng đến điều gan ruột trong giao tiếp ứng xử, giản dị mà thấm thía.

TRẦN QUANG QUÝ
Lời
Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác
Chiếc lưỡi đi qua ngàn cơn bão từ vựng
chiếc lưỡi trồi sụt trên núi đồi thanh âm, trên thác ghềnh cú pháp
chiếc lưỡi bị hành hình trong một tuyên ngôn.
Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác
cám dỗ xui nhiều điều dại dột
đời cũng dạy ta không thể uốn cong
dù phần thắng nhiều khi thuộc những bầy cơ hội
Trên chiếc lưỡi có lời tổ tiên
Trên chiếc lưỡi có vị đắng sự thật
Trên chiễc lưỡi có vị ngọt môi em
Trên chiếc lưỡi có lời thề nước mắt
Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác
dẫu những lời em làm ta mềm lòng
dẫu tình yêu em từng làm ta cứng lưỡi.
Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác
một chiếc lưỡi mang điều bí mật
và điều này chỉ người biết mà thôi.
Lời bình
Mới đọc câu mở đầu đã ngỡ ngàng, “Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác”! Ai mà chả nói bằng chính chiếc lưỡi của mình? Nhà thơ đưa ra một câu rất hiển nhiên, có vẻ như “ai mà chả biết”! Câu này thừa chăng? Trong bài thơ có một câu thừa thì chỉ có mà vứt cả bài đi thôi! Nhưng sao đọc câu thơ này ta lại giật mình? Có cái gì bí ẩn ở đây? Ngẫm lại xem, có khi nào ta nói, mà lời phát ra, có khi cả giọng nói không phải thật sự của ta mà là của người nảo người nào ấy? Quả có không ít lần như thế! Cái người nào ấy sai khiến ta, xúi giục ta, làm cho ta không còn là ta nữa qua lời nói. Thì ra nhà thơ viết cái điều “hiển nhiên” để kích thích, để gợi ra cái điều không bình thường kia ở trong mỗi chúng ta. Và cái điều “mượn lưỡi của người khác” ấy có lẽ chả hay ho gì.
Và để làm cái việc nói bằng chiếc lưỡi của chính mình, tưởng như nhẹ nhàng thôi lại hóa ra không phải đơn giản: “Chiếc lưỡi đi qua ngàn cơn bão từ vựng/ chiếc lưỡi trồi sụt trên núi đồi thanh âm, trên thác ghềnh cú pháp/ chiếc lưỡi bị hành hình trong một tuyên ngôn”. Trời ơi, khó khăn nguy hiểm đến thế kia ư? Lại còn bị hành hình nữa! Ôi thương cho cái lưỡi quá!
“Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác”! Tác giả nhắc lại và phát triển thêm, cái lưỡi từng bị “cám dỗ xui nhiều điều dại dột”. Nói bằng chiếc lưỡi của người khác thì tệ hại thế đấy, nó có thể đổi trắng thay đen, từ ngay thành gian, từ tốt thành xấu, từ thiện thành ác… chỉ còn là khoảng cách rất nhỏ, rất mong manh! Nhưng may mắn thay, có ông thày là cuộc đời từng dạy cho: “không thể uốn cong” Và vì thế mình có thể bị thất bại, bị đau đớn ê chề: “dù phần thắng nhiều khi thuộc những bầy cơ hội”. Phải, ta từng chứng kiến không ít cái cảnh “tiểu nhân đắc trí”.
Nhà thơ nhắc:“Trên chiếc lưỡi có lời tổ tiên”, nên nó thiêng liêng lắm! Và “có vị đắng của sự thật, có vị ngọt môi em, có lời thề nước mắt” nên nó mến thương, cao quý lắm!
Cho nên phải giữ cho lưỡi của mình lúc nào cũng thật sự là của mình, không uốn lưỡi vì người khác cả khi “dẫu những lời em làm ta mềm lòng/ dẫu tình yêu em từng làm ta cứng lưỡi”.
Ôi, cái lưỡi, tưởng đơn giản mà thực ra vô cùng bí ẩn, “lưỡi không xương lắm điều lắt léo” câu này để nói về mình hay về người khác đều được cả, nhưng trước hết phải cảnh giác với chính mình “một chiếc lưỡi mang điều bí mật…”
 “Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác”! Mới đọc tưởng câu thơ thừa, vô dụng, nhưng chạm vào sâu thẳm làm ta giật mình, mới thấy là vô cùng hệ trọng. Có phải vì thế mà tác giả nhắc đến bốn lần, đủ biết cái điều tưởng hiển nhiên đơn giản mà khó nhọc, mà hệ trọng biết chừng nào.
“dẫu tình yêu em từng làm ta cứng lưỡi”  là câu thơ hay nhất trong bài.
Dùng cái phi lý hình thức để đạt cái hợp lý nội dung, bài thơ làm ta suy ngẫm về nhiều lẽ ở đời đặc biệt là mỗi khi ta sử dụng đến cái lưỡi của mình để phát ngôn.
LY HOÀNG LY 
Mở nút áo
Chầm chậm, mở một chiếc nút áo
Soi vào gương chầm chậm, mở hai chiếc nút áo
Chầm chậm, mở ba chiếc nút áo
Soi vào gương, chầm chậm, mở chiếc
nút thứ tư
Chầm chậm, mở năm chiếc nút áo
Soi vào gương chầm chậm, mở nút thứ sáu...
Tìm hoài không thấy nút thứ sáu
Soi vào gương, cố tìm nút thứ sáu,
nút thứ bảy, thứ tám, thứ chín...
Mở mãi, muốn mở mãi
Mở bầu trời đêm trong lồng ngực
Nhưng áo chỉ năm nút
Nhưng đêm là vô tận
Mở mãi, muốn mở mãi
Mà bầu ngực vẫn trắng, không đêm
Mở mãi, muốn mở mãi
Bầu ngực này căng đêm
Soi vào gương
Bất lực và khóc
Trong vô vàn những giọt nước mắt
Một giọt đêm ứa ra từ bầu ngực trắng.
                                            
 Lời bình
Thiếu nữ đứng soi gương, lần lượt mở nút áo của mình. Một-hai-ba-bốn-năm… những thao tác bình thường quen thuộc ai ai cũng từng làm hàng ngày, không có gì đặc biệt, đến mức chả có gì đáng nói. Ở khúc 1-2-3, tác giả lại dềnh dàng, rời rạc. Nhưng mở hết năm chiếc nút rồi, sao lại đòi mở nút thứ sáu, nút này không có. Mấu chốt của vấn đề bắt đầu từ cái nút tưởng tượng này.
 Đã biết chắc nút thứ sáu không có, sao lại đòi mở nút bảy-tám-chín? “Mở mãi, muốn mở mãi/ Mở bầu trời đêm trong lồng ngực”. À, tác giả muốn mở cái vùng tối bí ẩn của bản thể mình. Nếu vậy thì không phải bảy-tám-chín nút đâu, mà còn nhiều nữa, thăm thẳm vô cùng, mênh mang vô định… Có tâm hồn, tư tưởng, có ý thức, tiềm thức, linh cảm, có nỗi niềm, có khát vọng, buồn vui, hạnh phúc, khổ đau, có thiện, có ác… Tác giả không nói ra những điều này, nhưng tình huống, hoàn cảnh gợi ra khiến người đọc suy ngẫm mà hiển hiện bao nhiêu điều cụ thể và mơ hồ.
 Trở lại những cái nút áo vật thể, vẫn chỉ có năm nút, làm sao đây? “Áo chỉ năm nút/ Nhưng đêm là vô tận” tương phản giữa hữu hạn và vô cùng, tình cảnh chơi vơi chới với trước cái vô cùng thật đáng thương.
 “Mở mãi, muốn mở mãi/ Mà bầu ngực vẫn trắng, không đêm”. Phần trắng hiện thực thì quá ư là hạn chế, cô bé hy vọng ở cái phần đêm siêu thực cơ. Phần siêu thực mới có thể giải đáp được những câu hỏi rất thực tế và phức tạp của cuộc đời. Nhưng không được!
 Hai khúc cuối: Vẫn tiếp tục“Mở mãi, muốn mở mãi/ Bầu ngực này căng đêm”. Bản thể chứa đựng nhiều lắm, bí mật lắm, vẫn là thân thể thịt da mình sao mà mênh mang, xa lạ? Khao khát muốn tìm hiểu khám phá mà đành bó tay. “Bất lực và khóc”.
 Khóc thật sự, khóc như mưa: “trong vô vàn những giọt nước mắt”… Đau khổ chăng? Ân hận điều gì chăng? Xót xa vì mình không hiểu được mình chăng? Muốn phơi bày tâm can nỗi niềm gì chăng? Tình cảm tha thiết chân thành. Cũng may, mãi đến phút cuối này, bầu trời đêm trong ngực mới cảm thông: “Một giọt đêm ứa ra từ bầu ngực trắng”. Giọt đêm tưởng tượng thôi, nhưng hiển hiện trước mắt ta lại rất thật. Rất thật nhưng ta cũng không thể nói đó là giọt gì. Thôi thì giọt gì cũng được, mỗi người cảm nhận một cách. Bài thơ đầy tâm trạng nhưng không rõ tâm trạng gì, lý do gì, khát khao gì, hay đang bế tắc điều gì?…
Hình tượng thiếu nữ trước gương mở dần từng chiếc nút áo rất đẹp và ấn tượng. Nhưng không phải để chiêm ngưỡng vẻ đẹp tòa thiên nhiên tuyệt tác ấy, mà tác giả gợi cho ta một cuộc thăm dò, khám phá bản thể rất lý thú và kỳ bí. Năm chiếc nút áo gợi cho người đọc nghĩ đến cái cơ chế đóng kín mà tác giả muốn cởi bỏ, nhưng chỉ cởi được phần hữu hình, còn phần vô hình vô hạn thì bất lực.
Muốn giải thoát, con người chỉ gặp đớn đau.
Tứ thơ được thiết kế chặt chẽ, mượn cái thật (năm nút áo) để nói cái không thật (bầu trời đêm trong ngực); mượn cái không thật (bầu trời đêm…) để nói cái rất thật (tâm trạng, tự vấn, cuộc tìm tòi khám phá chính mình, muốn giãi bày, giải thoát…). Cả bài thơ không có chữ nào mới nhưng cách diễn đạt tự nhiên mới mẻ, bao hàm ý mới lạ và sâu sắc... 
          N.V.T.
-----------------------
NGUYỄN VŨ TIỀM 49A/22 Phan Đăng Lưu, P7, Q. Phú Nhuận, TP.Hồ Chí Minh.  Email: vutiemnguyen@yahoo.com.vn   0909 450 871 
Nguồn:trannhuong.com

Thứ Hai, 25 tháng 2, 2013

MÈO CÁI KHÓC



Truyện ngắn của bùi Thị Sơn
1- Hai người nằm ườn, lười nhác trên phiến đá giữa rừng sâu thăm thẳm. Suối chảy róc rách bốn bề. Ngước nhìn lên trời cao, chỉ thấy tầng mây xanh ngăn ngắt. Nhìn xuống chút nữa, xung quanh núi nhấp nhô điệp trùng. Anh đặt tay lên bụng vợ, âu yếm nói:
- Con mình được hoài thai giữa khung cảnh thiên nhiên sơn thuỷ hữu tình thế này, chẵc chắn sẽ thông minh, nếu là con trai thì khôi ngô tuấn tú, nếu là con gái thì dịu dàng xinh đẹp lắm, em ạ! Nếu em sinh con trai, mình sẽ đặt tên con là Thạch Sơn, nếu em sinh con gái, mình sẽ đặt tên con là Thạch Hà, em nhé!
Lan lim dim mắt mơ màng, sung sướng tận hưởng cảm giác lâng lâng hạnh phúc.Từ lúc cưới nhau đến nay, chưa bao giờ Thái thể hịên sự lãng mạn đáng yêu như thế! Cô nhoẻn nụ cười tình tứ với chồng ...
- Này, này! Dậy đi em ơi! Tám giờ hơn rồi còn gì!
Nghe cái giọng ồm ồm của chồng cùng cảm giác nhồn nhột, ram ráp nơi đầu ngực, Lan phải trở về với hiện thực, với cái thói quen dùng bộ râu quai nón chà khắp thân thể vợ nhất là những vùng gợi cảm ...của Thái. Cô nhỏm dậy, dụi dụi mắt, tiếc hoài giấc mơ dang dở...
- Em đánh răng, rửa mặt, chải đầu, hai vợ chồng mình ra quán ăn sáng rồi đi nhé!
Lan vẫn ngáp ngắn ngáp dài, tiếc ngơ tiếc ngẩn giấc mơ dang dở:
- Đi đâu cơ! Ngày chủ nhật, lẽ ra anh cứ để cho em ngủ nướng thêm tí nữa...Tối qua, em chấm bài khuya nên hơi mệt.
- Em quên rồi sao? Tối qua hai vợ chồng mình đã thống nhất sáng nay em đi hiệu may một chiếc áo dài mới để
dự đám cưới cái Ni Na.
2- Lan đã từng được nghe tiếng mèo cái gào thét, nức nở gọi bạn tình giữa đêm hôm khuya khoắt khi cô ngủ một mình trong khu nhà vườn rộng mênh mông. Tiếng gào thét mới bức bối, da diết làm sao? Ngoao... ngo...a...o, ngo...a ...o... - Tiếng gào thét lúc khoan lúc nhặt,lúc hối thúc, giục giã, lúc van vỉ thiết tha... Tiếng gào thét cứ to dần, dữ dội, rồi ai oán, tuyệt vọng, chán chường... Hơn một tiếng đồng hồ khắc khoải không tìm thấy bạn tình, cô nàng mệt lử, khản đặc tiếng, chỉ gầm gừ yếu ớt trong họng... Chừng hai mươi phút sau, dường như đã nghỉ ngơi lấy lại được sức, mèo cái lại rống lên gọi bạn tình... Tiếng gọi lần này xót xa, thống thiết, mãnh liệt hơn. Tiếng gào thét như vọng đến trời xanh khiến trời động lòng thương cho mèo cái tìm thấy bạn tình. Đêm tối quá! Lan không nhìn thấy chàng mèo đực có được cái may mắn, diễm phúc gặp nàng mèo cái nồng nàn, say đắm của cô. Chỉ nghe trên mái bếp tiếng rượt đuổi nhau huỳnh huỵch (vẽ chuyện chưa, cấn lắm rồi mà còn cứ ra vẻ làm cao). Nhưng khúc dạo đầu không kéo dài lâu. Chỉ vài tích tắc sau đã nghe trên trần bếp tiếng lăn lộn gấp gáp, tiếng gừ gừ mãn nguyện của đôi bạn tình: tiếng rên của con đực khàn trầm, tiếng rên của con cái vút cao sung sướng...
Tám giờ sáng hôm sau, cô nàng mới lười nhác vươn vai uể oải đi từ góc bếp ra sân sưởi nắng. Nàng trườn tấm thân mềm mại có ba màu đen, vàng, trắng uốn éo trên đống cát trước cửa, mắt lim dim ra chiều sung sướng mãn nguyện lắm! Cái dáng nằm vừa e ấp, ý tứ vừa hé lộ sự khiêu gợi mời gọi... Ấy là lúc nàng khép nép khoanh tròn tấm thân mềm mại, hai chi trước khoanh trước ngực như thể đang nguyện cầu điều gì linh thiêng, thành kính lắm; hai chi sau khép chặt, chiếc đuôi dài vằn vện cụp lại phía sau như chở che, gìn giữ nơi thiêng liêng, thầm kín - nơi bảo tồn và phát triển của giống loài...
Chồng Lan đi công tác xa về. Nghe cô kể chuyện con mèo cái, anh phá lên cười:
- Trời ơi! Vợ tôi đa cảm quá! Chuyện đực cái của loài vật chỉ là chuyện bản năng, chúng làm gì có được cảm xúc như người... Em chỉ giỏi tưởng tượng vớ vẩn... Hay là...
Buông lửng câu nói ỡm ờ và cái nhìn sở hữu lên bộ ngực tròn đầy viên mãn của vợ, Thái bế bổng cô lên chiếc giường mới đóng bằng gỗ pơ mu thơm nức... Lan không kịp phản ứng gì. Từ khi cưới chồng đến giờ, cô hoàn toàn bị Thái chủ động lôi kéo... Trong thâm tâm, cô không hài lòng với kiểu cách yêu đương sấn sổ như cướp đoạt của chồng nhưng là người sống nội tâm, tinh tế, dịu dàng, kín đáo, cô không dám nói ra chuyện ấy. Vợ chồng cưới nhau được hơn một năm, Lan mong chờ mãi mà vẫn chưa mang thai. Tất cả đều lạ lẫm mới mẻ đối với cô. Ở thời buổi hiện đại này, cưới được một cô gái biết giữ mình, nết na, đoan trang như Lan quả là hiếm có khó tìm. Vì thế, Thái rất yêu vợ, có điều cái cách yêu của anh sống sượng quá, không phù hợp với con người mộng mơ, lãng mạn như Lan. Lúc đang còn yêu nhau, làm sao Lan biết được sẽ cưới phải một người chồng như thế... Mình phải nói! Phải nói! Phải nói! Đã bao lần Lan tự nhủ lòng mà vẫn chưa đủ can đảm nói với chồng điều tế nhị đó. Lần này thì không chịu được nữa rồi, cô ngồi bật dậy, hất tay chồng ra:
- Em mệt...hãy để cho em yên !
- Anh xin lỗi! Chẳng qua anh nhớ em quá! vợ chồng mới cưới - xa nhau ba ngày mà dài đằng dẵng như đã xa ba năm rồi ấy!
Câu nói có cánh ấy đã làm Lan xiêu lòng, không dám phản ứng...
3- Con mèo cái ngày càng mỡ màng, óng ả. Hàng ngày, nó vẫn ra sân sưởi nắng, mắt lim dim, lim dim... Cái bụng dần dần căng ra, các núm vú hồng hồng bé xíu như hạt gạo cũng dần dần nhô lên, Lan vui mừng trước sự đổi thay nhanh chóng của con mèo cái. Cô không có hứng thú để tâm sự với chồng về chuỵện con mèo. Cô sợ rồi cái thói bỡn cợt, vô cảm của Thái trước mọi sự đời.
Sáng sớm, Thái vừa dắt xe máy ra cổng thì gặp ngay bà Tho_bà hàng xóm đơn thân đã nghỉ hưu. Bà Tho hớt hải, lắp bắp:
_Chú...chú...chú Thái...
Thái vội vàng nhảy phóôc lên xe máy, ném vớt lại một câu:
_Bà vào gặp Lan nhé! Cháu phải đi làm ngay!
Rồi vù xe phóng thẳng, để mặc bà già lẩm cẩm đứng giữa sân, lắc đầu ái ngại.Trái ngược với chồng, vừa nghe tiếng bà Tho, Lan đã ra tận cổng đon đả mời bà vào nhà. Bà Tho_vẻ mặt đầy xúc động_lắc đầu quầy quậy:
_Cô...cô cùng tôi ra đây ngay...
Thấy lũ trẻ con khoảng chín, mười tuổi đang xúm đen xúm đỏ quanh hố vôi trước ngõ, chỉ trỏ, tranh cãi nhau, bà Tho quát tướng lên:
_Giải tán! Tao đã bảo chúng mày giải tán hết, đi học đi kẻo muộn cơ mà.
Bọn trẻ lẳng lặng bỏ đi...
Lan nhìn thấy giữa hố vôi mới tôi,xác một hài nhi khoảng trên ba cân đã tím tái song vẫn dễ dàng nhận ra đó là một bé trai bởi con chim nhỏ xíu của nó ủ rũ như một cái cuống cà bị phơi nắng suốt mấy ngày trời. Bà Tho kể:Sáng sớm nghe lũ trẻ ỏm tỏi trước hố vôi, bà tưởng có đứa nào sơ ý tụt chân xuống đấy bèn chạy ra giúp đỡ chúng.Té ra, chúng cãi nhau xem ai đã vứt con búp bê trần truồng vào hố vôi, mà chắc đã bôi bùn trước khi vứt xuống đó nên trông bẩn phát khiếp. Một thằng con trai dùng sào khều lên và nói: con búp bê to đẹp thế này, chỉ cần ngâm xà phòng omo rồi cọ rửa sạch, mặc quần áo vào là em gái nó đã có một con búp bê mới tinh.Vừa toan nhấc con búp bê...thằng bé đã hét lên một tiếng kinh hoàng rồi ngất lịm...Bọn trẻ con chạy bán sống bán chết.Bà Tho vội vàng bế xốc thằng bé vào nhà,xoa dầu gió cho nó tỉnh lại,cắt cử hai đứa trông nom nó rồi mới chạy sang nhà Lan.Cất giọng ngàn ngạt, bà Tho bảo Lan:
_Không biết người mẹ bất nhân của nó là ai, song nó đã chết ở cổng ngõ nhà mình, tôi với cô cùng lo hậu sự cho bé để vong linh nó đỡ tủi...
Lan rụng rời chân tay. Sao trên đời này lại có hạng người độc ác, vô tình đến thế? Dù có thể đứa nhỏ chỉ là kết quả của một mối tình chớp nhoáng hay một lần lầm lỡ , nhưng nó đã là một con người bằng xương bằng thịt, lẽ nào người mẹ dám tước bỏ quyền được làm người của nó? Hôm nay, Lan lên lớp tiết bốn nên cũng không vội lắm, bài vở cô đã soạn sẵn từ hôm qua. Cô nhanh chóng cùng bà hàng xóm đơn thân bế xác hài nhi vào nhà , cắt rốn cho nó . Lúc hai người đun nước nóng tắm cho đứa nhỏ ,phát hiện ra cổ nó bị rách bởi một vết thít(có lẽ bằng dây điện); chân trái, tay phải bị bẻ gẫy gập,cả hai không sao cầm nổi nước mắt .Tắm rửa xong xuôi,Lan ủ nó vào một cái khăn bông mớt đem từ nhà sang.Bà hàng xóm lôi từ cạp quần ra một chiếc chìa khoá màu đồng hun cũ kỹ rồi tiến đến bên chiếc hòm gỗ(một chiếc hòm đạn cũng cũ kỹ như chủ nhân của nó) lựa khoá mở hòm.Bà lôi từ trong hòm ra một tập thư vàng ố màu thời gian,một chiếc ca sắt,một cà mèn đựng nước,một chiếc áo dài màu tím Huế mới tinh.Nhẹ nhàng đặt tất cả những kỷ vật của một thời bom đạn lên chiếc bàn nhỏ kê ở cửa sổ,bà lại nhẹ nhàng đặt xác hài nhi vào trong hòm, khoá chặt lại.Nhìn bà hàng xóm tỉ mẩn lặng lẽ lo chuyện hậu sự cho đứa trẻ xấu số, nước mắt Lan lã chã tuôn rơi. Cô vội vã ra vườn chặt một nải chuối, hái một chùm hoa hồng bạch và cùng bà hàng xóm nhân hậu kê một cái bàn nhỏ, thắp hương cho đứa bé xấu số. Hai người đàn bà_một già một trẻ_một đã dâng hiến tuổi thanh xuân cho Tổ quốc trên tuyến đường Trường Sơn, khi hoà bình trở về đời thường với trình độ văn hoá chưa hết lớp 7, lại bị nghễnh ngãng do ảnh hưởng của những đợt dò phá bom mìn- được ưu tiên làm cấp dưỡng cho nhà khách uỷ ban nhân dân huyện cho đến lúc về hưu vẫn chăn đơn gối chiếc_một sinh ra và lớn lên trong cảnh sống thanh bình, phát triển của đất nước, yêu và lấy một anh chàng bác sĩ đẹp trai, tài giỏi , đầy triển vọng trên con đường công danh sự nghiệp _Hai người đàn bà ấy lặng lẽ khóc bên nhau,mất đăm dắm nhìn vào chiếc hòm đạn cũ kỹ .Trời ơi! giá người ta cứ đẻ và đem đến cho mình đứa trẻ này mình sẽ hạnh phúc biết bao!Sáu mươi tuổi,mình vẫn đủ sức nuôi nấng, chăm sóc nó nên người,mình sẽ bế nó đi xin sữangười đàn bà lớn tuổi thầm nghĩ. Mình mong đợi hàng năm rồi mà trời chưa thương cho mình hạnh phúc được làm mẹ.Giá đứa bé này còn sống,mình sẽ nhận nuôi nó ,coi nó như con ruột.Trời sẽ hiểu và thương mình...Người phụ nữ trẻ nghĩ.Bất chợt hai người nhìn sang nhau như đọc được suy nghĩ của nhau ,rồi như không kìm nén nổi,họ ôm chầm lấy nhau nức nở...
_Lan! Lan ơi!Mùi hương ở đâu nồng nặc thế này?Em đang làm gì đấy hở Lan?
Buổi sáng đi làm,Thái đang xạc pin vào di động nên quên luôn di động ở nhà.Từ bệnh viện,anh tranh thủ ù xe tạt về nhà lấy máy.Không nhìn thấy vợ đâu,anh ngó sang nhà bà Tho thì bắt gặp cảnh tượng vợ mình và bà hàng xóm nghễnh ngãng,gàn dở đang ôm nhau khóc như mưa như gió trước chiếc bàn thờ bé xíu nghi ngút khói hương bên cạnh chiếc hòm đạn cũ kỹ.Anh cất tiếng hỏi:
_Bác Tho ơi!Có chuyện gì xảy ra vậy?
Bà Tho gạt nước mắt,nức nở không nói lên lời.
_Sao vậy Lan?
Như có phản ứng dây chuyền,nghe tiếng bà Tho nức nở ,Lan càng hức lên không kìm nén nổi.Rồi cuối cùng ,qua những lời kể đứt đoạn xen lẫn với tiếng thút thít,Thái cũng hiểu ra ngọn nguồn câu chuyện.Anh bảo :
_Hai người đa cảm quá!ở trong bệnh viện,chuyện người ta đến đẻ xong vội vã trốn tránh ,bỏ rơi con xảy ra như cơm bữa...Mà bà mang nó vào trong nhà để thắp hương thế này là xui xẻo lắm đấy !
Lan sụt sịt:
_Nhưng nó chết tức chết tưởi,chết khổ chết sở quá anh ơi !
_Em thật là...người đời...
Rồi anh đùng đùng rồ xe máy,phóng thẳng,không nói một lời nào...
Lặng đi mấy giây trước thái độ dửng dưng vô cảm của chồng,Lan như sực tỉnh:
_Bác ơi!Cháu sắp phải lên lớp rồi!Làm thế nào bây giờ hở bác?
_Thôi!Cô cứ chuẩn bị lên lớp đi !Còn việc gì cứ để đấy tôi lo...
4-
...Suốt cả bữa cơm trưa và bữa cơm chiều hôm ấy,hai vợ chồng Lan lặng lẽ ngồi vào bàn,lặng lẽ ăn mà không ai nói với ai một lời nào.Lan nhai cơm trệu trạo không muốn nuốt nhưng cũng không nỡ đứng dậy trước Thái. Anh ấy đi làm bận bịu suốt cả ngày,chỉ có hai bữa cơm.Mình mà đứng dậy,anh ấy cũng thôi luôn và sẽ phải nhịn đói đi ngủ.Nghĩ vậy,Lan cố gắng nhai chầm chậm đợi Thái đứng dậy mới đem bát đĩa đi rửa.Đợi chồng nằm vào giường bật ti vi xem chương trình thời sự,Lan mới nhẹ nhàng sang nhà bà Tho...
Bà Tho đã làm xong cái bàn thờ ở thân cây muỗm ngoài sân để thắp hương cho đứa bé xấu số.Bà cất giọng ngàn ngạt bảo Lan:
_Tôi đã chôn bé ở ngay dưới gốc muỗm này,để ngày ngày gần gặn khói nhang cho vong linh nó bớt tủi...Lúc còn ở Trường Sơn,tôi cũng đã nhiều lần tham gia chôn cất đồng đội_những người hôm trước còn cùng ăn cùng ngủ với mình,bắt chấy cho nhau,trêu đùa chọc ghẹo nhau.Chỉ qua một trận đánh,họ dã ra người thiên cổ...Vậy mà không làm sao tôi quên được cảm giác đau buồn khi chứng kiến cái chết của một con người.Bây giờ cũng vậy...
Lan lặng lẽ ở bên bà Tho,giúp bà bóc lạc đến khuya mới về nhà.Cô nghe thấy tiếng chồng lầu bầu: Cái tủ quần áo...Sao cô không khép kín lại...Con mèo cái lăn lộn mãi trong đó,tôi đã lẳng nó ra ngoài sân rồi...
Ngoao... ngoao... ngoao... Con mèo cái rống lên thê thảm và dùng vuốt cào cửa cành cạch.Lankhẽ khàng ra mở cửa.Chỉ đợi có vậy,con mèo cái lao vụt vào phòng,ra sức nhảy lên cánh cửa đã bị Thái chốt chặt.Lan từ tốn bước đến bên giường chồng:
_ Anh cho em mượn chùm chìa khoá mở tủ.
_ Để làm gì ?
_ Em nghi...con mèo cái đã đẻ con trong đó.Không nhanh khéo nó chết ngạt mất...
_ Đúng là thần kinh cô có vấn đề.Làm gì có chuyện ấy ?
Lan không cãi một lời nào,lẳng lặng mở bật cánh tủ ra.Giữa những đôi tất chân đã bị bới bung lên,một con mèo con vằn vện ,nhỏ xiu ,ướt mèm,mắt nhắm nghiền đang thoi thóp thở...Con mèo cái chỉ đợi có vậy,lao vọt lên tủ,ôm ấp,vuốt ve,liếm láp và cho con nó bú.
_Thật là hết chỗ nói rồi.Tự dưng ngăn để tất biến thành ổ mèo.Mà cô không nghe người ta nói mèo đẻ một con là có điềm gở sao?
Lan hạ giọng năn nỉ:
_Không!Anh ạ,em chỉ nghe người ta bảo nếu mèo đẻ ở đâu thì cứ để nguyên nó ở đó,nếu mình tự ý dịch chuyển,phải vía, con nó sẽ chết.Thôi anh cứ để nó ở tạm đây;sáng mai em sẽ lấy hết tất ra và thay bằng ruột gối mềm cho mẹ con nó ngủ.
Thấy Lan trở lại dịu dàng dễ thương,Thái cũng mềm mỏng:
_Thôi khuya rồi,vợ chồng mình đi ngủ đi,mai còn dậy sớm đi làm.
Lan ngoan ngoãn,khép nép nằm xuống bên cạnh chồng.Bỗng có tiếng chuông vang lên từ di động của Thái.Thái làu bàu: Giờ này còn không để người ta được yên.Anh quyết định không nhấc máy.Lan ôn tồn nhắc:
_Mình là bác sĩ.Nhỡ ai có bệnh cấp cần gặp mình thì sao?
Lại một hồi chuông điện thoại nữa vang lên gióng diết.Thái nghe vợ,mở máy,giọng chuyển sangkhiêm tốn nhỏ nhẹ cực kỳ:
_A lô!Chị Hương đấy ạ!Có việc gì mà đêm hôm chị gọi đến em thế ạ?
_Chú sang ngay nhà chị!Cháu Ni Na ốm.!
Giọng người đàn bà đầu dây máy vang lên rành rọt như một mệnh lệnh.Thái vùng dậy,mặc thêm quần áo,rồi vù xe đi luôn,không kịp căn dặn vợ lời nào.
5-
...Nưả đêm,khi Lan đã ngon giấc thì nghe tiếng xe máy của chồng vù về:
_Lan ơi!Ngủ chưa?Anh thương cái Ni Na quá!
_Ni Na làm sao?Chẳng phải con bé đang học ở trường Đại học Văn hoá Hà Nội sao?
_Nó vừa tranh thủ về thăm bố mẹ được mấy hôm _Anh bỗng hạ giọng nói nhỏ _Cái hài nhi bà Tho chôn cất hồi chiều chính là con của nó đấy!Một thằng bạn cùng học ở Hà Nội yêu con bé...nhưng khi cái bụng nó ễnh ra rồi thì thằng đó tính bài chuồn,viện cớ bố mẹ nó không đồng ý cho lấy vợ mãi tận miền ngược.May mà con bé cao lớn,lại đang là mùa đông,nó mặc áo măng tô rộng thùng thình nên không ai biết được.Nửa đêm hôm qua,con bé trở dạ.Cố nén cơn đau,nó ôm theo một bọc quần áo vào toa lét.Vừa kịp khép cửa toa lét thì đứa bé đã rơi ngay ra nền gạch lát.Không kịp để cho thằng bé cất tiếng khóc chào đời,nó lấy hết sức bình sinh nhỏm dậy,nhét ngay chiếc tất xù vào mồm đứa bé.Nó bảo:Nhìn mặt đứa bé giống thằng bố nó như tạc,máu uất nổi lên,nó quyết tâm kết liễu đời thằng bé để chấm dứt vĩnh viễn một mối tình oan nghiệt...
Lan thấy đau nhói ở ngực trái:
_Lúc ấy chị Hưong làm gì?Sao chị ấy không khuyên can con bé?
_Chị ấy đã ngủ say.Con Ni Na cố giấu vì nó đã nung nấu ý định trả thù thằng Sở Khanh kia từ lâu.Nó bịt mồm,thít cổ,bẻ gẫy chân tay thằng bé rồi cuộn xác thằng bé vào đống quần áo sạch,cho vào thau đem ra hố vôi mới tôi.Nhìn trước nhìn sau không thấy ai,nó thả xác thằng bé xuống hố vôi rồi vội vã đem chậu quần áo về,cho vào máy giặt sạch...Nó đang xối nước cọ toa lét thì kiệt sức phải lết vào phòng ngủ.Sáng bảnh mắt không thấy con gái dậy,lại ngửi thấy mùi tanh trong toa lét,chị Hương hốt hoảng đập cửa buồng con gái mới vỡ lẽ mọi sự... .Khổ quá!Cái Ni Na bị sót rau,lên cơn sốt liên miên.Chị Hương khóc hết nước mắt vì thương con.May mà anh Chiến đang công tác tại Hà nội.Bây giờ thì ổn rồi.Vợ chồng mình biết với nhau thôi nhé!Nên giữ thể diện cho anh chị ấy.Người ta là một gia đình danh giá...
Lan nhìn xoáy vào mặt chồng.Anh ta đóng kịch cả với vợ.Bà Hương-Phó chánh thanh tra huyện là vợ của ông chủ tịch huyện-người đã giúp đỡ Thái vào làm việc ở trung tâm y tế huyện,rồi cất nhắc anh lên trưởng khoa nội,sắp tới giám đốc trung tâm y tế nghỉ hưu,đồng chí phó giám đốc lên thay,Thái là một trong những ứng cử viên sáng giá tranh cử cái ghế phó giám đốc.Chỉ cần một tiếng nói của đồng chí chủ tịch huyện_người anh kết nghĩa_coi như phần thắng đã nằm trong tầm tay.Thế thì làm sao mà chả thương với xót.Nếu rơi vào trường hợp khác gọi điện vào giờ ấy,chắc chắn Thái không rời khỏi chăn gối được.Trời ơi!Tại sao lúc yêu nhau ta không nhận ra điều này?-Lan xót xa thầm nghĩ.
6-.
Một tuần sau .
Buổi chiều, Lan đang soạn giáo án thì nghe tiếng rú kinh hoàng,dồn dập của con mèo cái. Tiếng rú thất thanh,đớn đau,tuyệt vọng.Cô chạy vội từ tầng hai xuống và bắt gặp con mèo cái đang xoã xượi,phủ phục lên con nó .Cô tiến đến gần và dường như không còn tin vào mắt mình nữa. Con mèo con loang lổ,nhỏ xiu như một quả dưa chuột mềm nhũn ,oặt ẹo ,hai mắt nhắm nghiền...nó đã chết ngạt trong tủ từ lúc nào.Cô không nỡ đem xác nó đi chôn ngay.Con mèo cái khoanh tròn hai chân sau,hai chân trước giang rộng ôm lấy xác con nó như gà mẹ xù cánh ấp con ,che chở con khi nhìn thấy diều hâu sà xuống định cắp con nó đi.Cô liên tưởng đến hình ảnh diều hâu rình bắt gà con là bởi vì cô nhìn thấy ánh mắt xanh lè,căm hờn của con mèo cái nhìn cô như chính cô là thủ phạm đã giết chết con nó.Cô quay mặt đi,không dám nhìn cảnh tượng ấy nữa.Rõ ràng,sáng nay-trước khi lên lớp,cô vẫn nhớ mở toang cánh cửa tủ để mèo mẹ vào ấp ủ,cho con nó bú...Lan quay trở lại bàn soạn giáo án nhưng không còn tâm trí để vào bài vở nữa.Dưới nhà,con mèo cái vẫn tru lên từng hồi ai oán.Từ bé đến giờ,chưa bao giờ cô nghe thấy tiếng mèo khóc.Rồi dường như mệt lả, nó lặng im một hồi lâu. Lan đoán nó thấm mệt nên đã ngủ thiếp đi. Cô rón rén đi xuống cầu thang, định lừa lúc con mèo cái ngủ quên sẽ bế con mèo nhỏ đi chôn. Thì ra, con mèo cái đã cắp con nó trở lại ngăn tủ, khòeo chân vén những miếng vải vụn đắp cho con nó. Và... kỳ lạ chưa, nó nhỏm ngồi dậy,nhẹ nhàng nâng con mèo con lên, dí núm vú hồng hồng bé tẹo ở hàng vú thứ hai vào cái miệng nhỏ xíu khép chặt của mèo con. Nó cứ dướn lên,dướn lên mãi mà không tài nào đưa đầu vú vào miệng con nó được. Như sực tỉnh trước sự thực phũ phàng là con mình đã chết rồi,nó lại tru lên từng hồi não nề,đau đớn...Hai hàng nước mắt lã chã tuôn rơi, Lan không dám nhìn cảnh tượng đau lòng ấy nữa. Cô khẽ lùi bước định leo lên cầu thang, chẳng may vấp phải bình lan ý, cô ngã quay ra nền nhà. Nhanh như cắt,con mèo cái nhảy tót từ trong tủ xuống sàn nhà, lăn lộn cào cấu Lan, miệng không ngớt tru lên những tiếng khóc than não nuột... Lan càng khẽ gỡ nó ra thì nó càng liều lĩnh ôm chặt lấy Lan. Lan nước mắt ròng ròng - đau thì ít mà xót thương cho con vật thì nhiều...
Vừa lúc đó, Thái bước vào nhà. Nhìn thấy cảnh tượng con mèo cái hung hãn đè lên vợ mình cùng với những tiếng kêu gào ghê rợn, cô vợ nhỏ bé nước mắt lưng tròng, chống cự yếu ớt. Anh lao vào xách tai nó, xoay ba vòng rồi lẳng đi thật xa. Con mèo ngất lịm. Lan nhảy bổ ra sân, ôm lấy con mèo:
_ Trời ơi! Sao anh ác thế? nó chết thì sao?
_ác gì? Nó chẳng cào em xây xước mặt mày đó sao? Nó choáng một chút rồi tỉnh dậy ngay thôi! mà nó có chết thì em đã có con của nó rồi...
_ Con nó cũng chết rồi,anh ạ...
Lan thút thít kể cho chồng nghe về cái chết của con mèo con. Thái lấykhăn mùi xoa lau mắt cho vợ, an ủi cô:
_ Có lẽ tại anh... sáng nay, khi em lên lớp tiết một,anh mở tủ tìm đôi tất chân, con mèo mẹ nhảy từ tủ ra sân, anh quên con nó vẫn ở trong đó nên tiện tay đóng cửa tủ lại.Mãi đến trưa,anh mới mở tủ lấy áo lót thay... Mà em buồn làm gì. Hôm nay,anh nhận tiền bồi dưỡng trực đêm được một trăm ngàn. Mai em ra chợ mua con mèo khác đẹp hơn con này...
_ Nhưng mình đã nuôi nấng nó từ khi nó còn nhỏ, em thương nó quá!
Thái ôm vợ vào lòng, vỗ về cô:
_ Trời ơi! Vợ anh đa cảm quá! Có lẽ bởi vậy anh mới yêu em nhiều đến thế!
Nhưng thôi, muộn rồi, em vào bếp nấu cơm đi! Anh sẽ đi chôn con mèo con và theo dõi con mèo mẹ xem nó có tỉnh lại không nhé!
7_
Lan miễn cưỡng đi vào trong bếp. Một lát sau,Thái trở lại rửa tay thật sạch rồi vòng ra sau lưng ôm lấy vợ:
_ Thôi đừng buồn nữa, mất xinh. à, anh báo cho em một tin mừng nhé! Tuần sau, con gái chị Hương lấy chồng. Em nên may một chiếc áo dài mới maù tím Huế để hai vợ mình cùng đi dự đám cưới nhé!
_ Chị Hương nào? _ Lan hững hờ hỏi.
_ Thì là vợ ông anh kết nghĩa của anh đấy thôi! Cái thằng Sơn bên phòng thanh tra huyện _ nhân viên của chị Hương ấy _ số nó son thật. Bao nhiêu đứa si mê, muốn chết vì cái Ni Na mà nó có thèm ngó ngàng tới bọn trai xóm núi này đâu. Chị Hương nhà mình cũng thật là nhân hậu. Chị ấy không cậy chồng làm lớn mà chê bai con nhà nông dân...
Thái còn lải nhải ca ngợi chị Hương nhà mình hết lời nhưng tai Lan như ù đi, cô không buồn nghe chồng nói nữa.Trước mắt cô bỗng hiện lên chiếc áo dài màu tím Huế bà Tho đã nâng niu,cất giữ trong hòm đạn ba mươi nhăm năm nay,bà may sẵn sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng,đợi người yêu từ chiến trường trở về làm lễ cưới như lời hẹn ước.Nhưng anh đã vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất Sài Gòn đúng vào ngày cuối cùng của cuộc chiên tranh:Ngày hai mươi chín tháng tư năm một ngàn chín trăm bẩy mươi lăm.Bây giờ bà Tho đem cái áo ấy gối lên đầu giường vì chiếc Va li bằng hòm đạn_kỷ vật thân thiết thời tuổi trẻ của bà đã dùng làm quan tài chôn cho thằng bé con xấu số chưa kịp cất tiêng khóc chào đời...